8. SỨC MẠNH CHÚA THÁNH THẦN
Chị Mariam của Chúa Giê-su Chịu Đóng Đinh được quá nhiều ơn lạ, đến nỗi cha Tổng Quyền Dòng Thánh Tâm tại Betharram lúc ấy đã viết: “Mặc dù đã có biết bao chứng nhân đầy thế giá đáng tin cậy và biết bao bằng cớ đồng quy hỗ trợ cho kết luận rằng đó những việc kỳ diệu của Thiên Chúa, đôi khi người ta vẫn bị cám dỗ nghĩ rằng đó là những trò đùa của ảo tưởng”.
Nhiều người đã thử cắt nghĩa bằng bệnh lý hoặc gán mọi sự cho ma quỷ nhưng lập luận không đứng vững. Cuối cùng, các nhà biết tiểu sử phải nhìn nhận rằng chị Mariam là tác phẩm kỳ diệu của Chúa Thánh Thần và cũng là Tông Đồ nhiệt thành của Ngài. Quả thực, chị xuất hiện như hiệu quả và hào quang của Chúa ThánhThần. Từ nhỏ chị đã có lòng sùng kính Chúa Thánh Thần đặc biệt. Đáp lại, Chúa Thánh Thần đã ban cho chị những hồng ân và đặc sủng rất lớn, ngay từ thơ bé và ngày càng gia tăng.
Trong thời gian ở Nhà Tập Cát Minh tại Paul ( 1867 – 1868 ), Ma-ri-a Chúa Giê-su Chịu Đóng Đinh được nghe Chúa Thánh Thần ( hiện ra với hình bồ câu ) dạy cho lời nguyện sau đây mà suốt đời chị hằng đọc, và về sau đã được truyền ra khắp nơi:
“Lạy Chúa Thánh Thần, xin soi dẫn con.
Ôi tình yêu Thiên Chúa, xin thiêu đốt con.
Trên đường ngay chính, xin dắt dìu con.
Ôi Mẹ Ma-ri-a, xin đoái nhìn con,
Cùng với Chúa Giê-su, xin chúc phúc cho con.
Xin giữ gìn con mọi khỏi sự dữ,
Mọi ảo tưởng và mọi nguy hiểm”.
Khi còn là tập sinh, chị Ma-ri-a Chúa Giê-su Chịu Đóng Đinh thường hay nói về Chúa Thánh thần cách rất sốt sắng. Bà Mẹ giám tập làm chứng: “Em nhỏ này không thể dấu kín được điều
đó, em có lòng sùng kính khác thường đối với Chúa Thánh Thần. Khi em nói về Ngài, là nói bằng những kinh nghiệm nóng bỏng, và tất cả con người của em như bừng sáng lên”.
Tháng 11 năm 1871, trong thời kỳ tĩnh tâm để dọn mình khấn, vào ngày lễ Đức Mẹ tận hiến, trong một cuộc xuất thần, chị thốt lên lời nguyện sau đây:
“Lạy Chúa Thánh Thần, chính Chúa làm cho chúng con được hiểu Chúa Giê-su, Chúa là nguồn an ủi của con, xin Chúa đến. Chúa là bình an của con, xin Chúa đến. Chúa là sức mạnh, là ánh sáng của con, xin Chúa đến. Xin Chúa đến soi sáng con để con tìm được suối nước trong cho đã khát. Chỉ một giọt nước của Chúa, đủ cho con, và con được thấy Chúa Giê-su, như Ngài hiện hữu. Chúa Giê-su đã nói: chính Chúa Thánh Thần sẽ đến cùng kẻ ngu dốt hơn hết. Con không xin Chúa khoa học nào hay sự khôn ngoan nào khác hơn là khoa học tìm được Chúa Giê-su và sự khôn ngoan giữ được Ngài”.
Tại Dòng Kín Bê-lem, ngày 18.5.1873, chị được một thị kiến với lời truyền dạy về việc tôn sùng Chúa Thánh Thần, mà do đức vâng lời, chị ghi lại ngay ngày hôm sau. Chúa Giê-su đã phán với chị như sau: “Nếu con muốn tìm Ta, biết Ta và theo Ta, con hãy xin Ánh Sáng là Chúa Thánh Thần, Đấng đã
soi sáng các môn đệ Ta và đang soi sáng cho mọi dân tộc cầu khẩn Ngài. Quả thật, Ta bảo con: Ai cầu khẩn Chúa Thánh Thần, người ấy sẽ tfim kiếm Ta, gặp được Ta. Lương tâm họ sẽ được tế nhị như hoa đồng nội. Ta tha thiết ước mong các Linh Mục mỗi tháng dâng một Thánh Lễ tôn kinh Chúa Thánh Thần. Ai cử hành hay tham dự Thánh Lễ ấy, sẽ được chính Chúa Thánh Thần quí trọng. Họ sẽ được ánh sang, họ sẽ được bình an, họ sẽ được chữa lành người bệnh và sẽ đánh thức kẻ mê ngủ”.
Thi hành lệnh từ trời, từ Dòng Kín Bê-lem, Nữ Tu Mariam viết thư cho Đức Thượng Phụ Giê-ru-sa-lem, Đức Cha Bracco, trình bày tha thiết về việc tôn sùng Chúa Thánh Thần. Với sự quen biết và tín nhiệm sẵn có, Đức Thượng Phụ chấp nhận ngay thỉnh nguyện của chị: Ngài lập một bàn thờ kính Chúa Thánh Thần trong Nhà Thờ Chính Toà Giê-ru-sa-lem. Nhiều lần khác nữa, chị yêu cầu Đức Thượng Phụ cầu khẩn Chúa Thánh Thần như làm tuần chín ngày... và Đức Thượng Phụ đã chấp thuận. Do ơn thúc đẩy bên trong, chị mạnh dạn viết thư lên Đức Giáo Hoàng, bộc lộ những kín nhiệm của linh hồn mình về việc tôn sùng Chúa Thánh Thần.
Tháng 6 năm 1877, năm chót cuộc đời chị, chị nhờ Đức Thượng Phụ Giê-ru-sa-lem đệ lên Đức Thánh Cha Pi-ô IX một thư thỉnh nguyện mà nội dung được tóm lược như sau:
“Ở ngoài đời cũng như trong các Dòng Tu, người ta đua nhau tìm những điều mới lạ trong các việc tôn sùng nhưng lại coi thường việc sùng kính Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ. Chính vì vậy mà có sự lầm lạc, chia rẽ, không có bình an và ơn soi sáng. Người ta không kêu mời Ánh Sáng như lẽ ra phải kêu mời, mà chính ánh sáng mới cho ta biết sự thật. Ngay trong Chủng Viện, người ta cũng coi thường việc tôn sùng Chúa Thánh Thần.
Dù ở ngoài đời hay trong Tu Viện, bất cứ ai cầu khẩn Chúa Thánh Thần và có lòng cung kính Chúa Thánh Thần, sẽ khôn phải chết trong lầm lạc. Phàm Linh Mục nào giảng về việc sùng kính Chúa Thánh Thần, sẽ được ơn soi sáng trong khi nói về Chúa Thánh Thần cho kẻ khác. Có lời dạy con rằng: trên khăp hoàn cầu, phải liệu định cho mỗi Linh Mục làm một Lễ kính Chúa Thánh Thần mỗi tháng và tất cả những ai tham dự đều sẽ được ân sủng và ơn soi sáng đặc biệt”.
Thư này đã được chính thức đệ lên Đức Thánh Cha. Hai mươi năm sau khi chị qua đời, những nguyện vọng của chị mới được Toà Thánh đáp ứng. Ngày 5.5.1895, Đức Lê-ô XIII đã công bố một lá thư, rồi ngày 5.9.1897, Ngài lập ban Thông Điệp về việc tôn sùng Chúa Thánh Thần. Chính ngài truyền làm tuần 9 ngày trước ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Về vấn đề này, một tác giả, cha Buzi viết: “Thiên Chúa biết rõ sự vận động riêng tư của chị Dòng Kín khiêm tốn ấy, đã chuẩn bị cho
hành động công khai của Vị Đại Diện Chúa Ki-tô đến mức nào”.
Nhiệt thành sùng kính Chúa Thánh Thần và sốt sắng cầu khẩn Ngài sẽ được hưởng những ơn trọng đại của Ngài. Mà nào có khó gì đâu ! Ở trong nhà, ở ngoài đường, khi làm, khi ăn, đêm khuya giật mình thức giấc... Bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, ta đều có thể hướng lòng lên Chúa Thánh Thần, xin Ngài soi sáng và trợ giúp. Cách riêng là mỗi khi bắt đầu một ngày mới, bắt đầu một công việc.
Có thể đọc kinh “Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần”, hoặc kinh “Cúi xin Chúa
sáng soi” mà cũng có thể cầu nguyện vắn tắt: “Lạy Chúa Thánh Thần, con yêu mến Chúa. Xin hướng dẫn và nâng đỡ con”. Hãy cảm tạ Chúa Thánh thần về những ơn Ngài đã ban và hãy xin Ngài ban những ơn mới. hãy thường xuyên đến với Chúa Thánh Thần và sẽ thấy tình thương và quyền năng của Ngài thật kỳ diệu.
9. CON ĐƯỜNG CỦA EM NHỎ
Mọi người trong Dòng đều gọi chị là “em nhỏ”. Có lẽ tên gọi ấy không chỉ vì vóc dáng chị nhỏ bé mà trước hết vì tâm hồn chị như trẻ em. các sử gia mô tả chị là một thiếu nữ đơn sơ, trong trắng, vô tội, hồn nhiên, chân thành, thẳng thắn, sinh động, nhạy cảm, tận tuỵ, cởi mở, tế nhị và quảng đại. Một con người như thế mà hoàn cảnh lại đẩy vào giữa những cạm bẫy của đô thị. Nhờ đâu mạ chị có thể đứng vững ? Chính là nhờ lòng sùng kính Chúa Thánh Thần như đã nói trên. Chính Chúa Thánh Thần làm cho con chim câu đơn sơ ấy biết khôn khéo như con rắn ( x. Mt 10, 16 ).
Cùng một lúc, chị vừa chất phác vừa khôn ngoan. Chúa Thánh Thần ban cho chị được ơn phân biệt đâu là ý mình, đâu là ý Thiên Chúa. Nhờ đó, chị có thể giúp cho người xung quanh những lời khuyên rất xác đáng. Về sau, khi vào Dòng, chị đã giúp đỡ được nhiều chị em. khi được Chúa soi sáng, chị còn can đảm viết thư trinh bày những điều Chúa muốn cho các Đức Giám Mục và cả Đức Giáo Hoàng.
Chị đề cao cổ võ tinh thần bé nhỏ, đồng thời chị trải qua những khổ đau khủng khiếp. Có thể nói chị đã tổng hợp được sự cao cả anh hùng của thánh Tê-rê-sa Avila với sự bé nhỏ phó thác của thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su sau này. Ta có thể tóm tắt con đường của chị bằng 3 điểm:
- Ý thức nỗi khốn cùng và bất lực của mình ( khiêm nhường và nghèo khó )
- Miệt mài tìm kiếm, làm theo ý Chúa.
- Dành ưu tiên cho tình yêu Chúa.
a. Khiêm nhường và nghèo khó: Đức Trông Cậy.
Được chất chồng biết bao ơn lạ, thế nhưng chị luôn khiêm nhường. Ham thích sống bé nhỏ, chị tình nguyện ở bậc trợ sĩ để làm những việc khiêm hạ. Chị luôn luôn coi mình là hạt bụi, là con giun trong lòng đất. Chị vui lòng khi bị khinh chê miệt thị. Chị không tự bào chữa. Chị than khóc cho những khuyết điểm nhỏ của chị còn hơn các Tu Sĩ than khóc những tội lỗi nặng hay nhẹ của họ.
Chị ý thức mình là “số không bé nhỏ”, là “không gì cả”, còn Thiên Chúa là “Tất Cả”, là “Tuyệt Đối”. Chị sống khiêm nhường và mời gọi mọi người sống khiêm nhường. Tiếp theo là nghèo khó. Ngay từ những năm chưa vào Dòng, chị đã rất yêu chuộng sự nghèo khó: có gì đều cho hết. Chị phục vụ và Ê-li-sa-bét. Chị sống bác ái tận tình: bao nhiêu tiền công ở đợ giúp hết cho người nghèo.
Chị nói với một người bạn Nữ Tu: “Hãy nhớ rằng dù bạn có cả đại dương trước mặt cũng
đừng lấy nhiều hơn điều bạn cần”. Chị quý từng cây kim, sợi chỉ, không phải vì tiết kiệm nhưng là để tỏ ra sự trân trọng tế nhị đối với tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Chị nói: “Khi cần tu sửa
nàh cửa, ta sẽ tốn bạc triệu và Chúa sẽ lo cho ta, nhưng một cọng rơm mà ta dùng phí phạm đã là súc phạm đến Chúa và sẽ bị Chúa quở phạt”.
Sống nghèo khó chính là sống đức Trông Cậy. Mariam đã để cho mình bị tước lột tất cả, đã cho đi tất cả, không giữ lại gì, bởi vì chị hy vọng tất cả nơi Thiên Chúa, chị nhận Chúa làm gia nghiệp của mình.
b. Lắng nghe và làm theo ý Chúa: Đức Tin
Chúng ta không thấy và không nghe Thiên Chúa được là vì biết bao thứ ngăn cách. Còn chị Mariam thì, với đức tin, chị thấy và nghe Chúa nói với chị ngang qua mọi sự. Cách riêng, chị thấy và nghe Chúa qua Hội Thánh. Chị hết sức quảng đại trước tiếng Chúa. Bất cứ điều gì mà chị biết Chúa đòi hỏi chị, dù lớn hay nhỏ, chị đều mau mắn làm theo ngay. Chị tin rằng Chúa nói với chị qua các Bề Trên, cho nên bất cứ điều gì các Bề Trên Dòng cũng như các giám mục yêu cầu, chị đều vâng lời triệt để.
3. Đức Yêu Mến
Cuộc đời chị Mariam mang nhiều màu sắc trái ngược: Vừa bị tước lột, đau khổ, hạ nhục, vừa được đầy những đoàn sủng đủ loại. Điều làm cho cuộc đời ấy được thống nhất chính là lòng yêu mến. Chị là phản ánh của tình yêu Thiên Chúa trước mặt mọi người. Chị luôn quan tâm và đầy tế nhị với mọi người, hy sinh tận tuỵ không biết mệt, luôn gánh lấy việc nặng cho mình và nhường phần nhẹ cho người khác.
Chị tha thiết cầu nguyện cho những người nói xấu chị. Chị chăm sóc tận tình cho các công nhân xây dựng, đa số là người Hồi Giáo, khiến ai cũng mến chị và gặp được Chúa nơi chị. Sau cùng, chị chết vì tai nạn lao động, khi đem nước uống phục vụ họ.
Chị trung thành với những giờ hẹn gặp Chúa Tình Yêu, tức là những giờ cầu nguyện. Dường như tâm hồn chị luôn hướng về Thiên Chúa và thờ phượng Thiên Chúa. Những người cùng làm việc với chị có cảm tường lúc nào chị cũng đang sống và làm việc trước nhan Thánh Thiên Chúa. Chị như luôn thấy Đấng Vô Hình, ngay cả trong giờ chơi.
Tuy nhiên, liên lỉ gặp Chúa đang khi làm việc, chị chưa lấy làm đủ, chị còn muốn dành những giờ dài cho Chúa, cách riêng là trước Thánh Thể. ( Ngày nay, sống giữa lòng đời, chúng ta khó có điều kiện đến Nhà Thờ chầu Chúa. Tuy nhiên, dù ở đâu, chúng ta vẫn có thể quay về phía có Nhà Thờ để thờ lạy và cầu nguyện vớiơgs Thánh Thể đang ngự trong nhà tạm tại Nhà Thờ ấy ).
Chị chịu đau khổ vì yêu: Đặc biệt, dường như chị đã liên lỉ tìm và gặp được Đức Ki-tô là Thiên Chúa Tình Yêu chiu đóng đinh trên thập giá. Tên dòng của chị là Ma-ri-a Chúa Giê-su Chịu Đóng Đinh. Do đó, chị tận dụng mọi cơ hội để dâng lên Chúa những hy sinh bên ngoài và bên trong. Chị khao khát chịu đau khổ, không phải vì thích khổ nhưng vì thích làm đẹp lòng Đấng Chịu Đóng Đinh.
Chị sống cho Tình Yêu: Mùa Phục Sinh năm 1876, 30 tuổi, chị đã được Chúa cho ký kết giao ước tình yêu với Ngài. Từ đó, chị như luôn mang trên tay một chiếc nhẫn vô hình và thỉnh thoảng chị lại hôn chiếc nhẫn ấy. Chị cho biết: “Bất cứ ai biết thưa: Lạy Chúa, xin hãy làm nơi
con những gì Chúa muốn, thì đều sẽ được Chúa ban cho chiếc nhẫn giao ước tình yêu”.
Chị còn nói: “Con ở trong Chúa và Chúa ở trong con. Con thấy rằng mọi thụ tạo, cây cối,
cỏ hoa, đều là của Chúa và đều là của con”, và: “Con khát khao có được một trái tim lớn hơn trái đất, rộng hơn biển cả, để yêu Chúa, Chúa ơi”.
10. VỀ VỚI CHÚA
Những nhân vật chính liên hệ đến chị Mariam lần lượt qua đời, khiến chị ngày càng khao khát được về với Chúa. “Chúa ơi, lòng con không chịu nổi nữa. Làm sao Chúa còn muốn cho con
sống ? Ôi sự chết thật hồng phúc, nó sẽ cho con được thấy Thiên Chúa”.
Tháng 5.1878, sau khi từ Na-za-rét về, chị tâm sự với chị Giám Tập rằng Chúa đã đổ đầy cho chị một ơn kết hợp khác thường. Chị thú nhận rằng không giây phút nào chị không sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa.
Chị xuất thần dồn dập đồng thời lại càng khiêm nhường và tuân phục hơn. Chị tìm mọi dịp nhỏ mọn để phục vụ chị em. chị chuyển lại cho chị em những lời Chúa nhắn nhủ: “Chúa muốn
rằng tại đây chỉ có những tâm hồn khiêm nhường, những kẻ chẳng là gì, những người hư không, để trên đó Chúa có thể hành động và tạo nên một sự thánh thiện đích thực, những tâm hồn cầu nguyện, bỏ mình, bác ái và vâng phục”.
Đầu mùa hè, việc xây dựng Đan Viện tiếp tục. Người ta xây các tu phòng. Chị trợ sĩ của chúng ta xả thân không biết mệt trên công trường, trong trách vụ bạc bẽo của một người coi ngó công nhân. Không bao lâu sau, chị yếu hẳn. Tháng 7, chị nhiều lần bị ngạt thở. Ngực và hai chân sưng phù. Chị thức suốt đêm không ngủ được. Dù vậy, từ đầu giờ, chị đã có mặt ở công trường.
Ngày 22.9, khoảng 10 giờ, chị xách hai thùng nước mát cho công nhân uống. Khi leo lên một con dốc hẹp, chị trượt té, tay trái bị gãy nhiều chỗ. Được đưa về nhà bệnh, chị nói với Bề Trên:
“Thưa Mẹ, thế là xong. Đó là dấu hiệu kết thúc”. Chị nói với chị em: “Em đang trên đường về Trời. Em sắp chết rồi. Khát vọng cả đời của em sắp mãn nguyện. Em sẽ về với Chúa Giê-su”.
Chỉ hai ngày sau, chứng hoại thư bắt đầu lan rộng, từ vai tới cổ. Các bác sĩ bó tay. Các Linh Mục xung quanh đến thăm để, theo họ nói, thử xem một vịThánh chết như thế nào. Người ta nghe chị thì thào: “Hãy đến, lạy Chúa Giê-su, xin hãy đến”. Đức Giám Mục hỏi chị: “Con sẵn sàng chết bây
giờ chưa ?” Chị đáp lại: “Thưa cha, sẵn sàng”.
Những ngày cuối tháng 8, gió sa mạc nóng như thiêu. Chị thốt lên: “Khát quá ! Khát quá
!” Thế nhưng không gì có thể giúp chị giãn khát. Đêm cuối cùng, chị hấp hối như Chúa trên đồi Gôn-gô-tha.
Nửa đêm, người ta cho chị rước lễ. Khoảng 4 giờ rưỡi, chị than thở: “Như nai rừng mong
mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa”.
5 giờ, chị mời cả nhà vây quanh chị. Người ta nhắc cho chị: “Ôi Chúa Giê-su đầy thương
xót”. Chị lặp lại: “Vâng, đầy thương xót”. Đó là lời cuối cùng của chị, rồi chị nhẹ nhàng trút linh hồn.
Theo di chúc, bác sĩ giải phẫu lấy trái tim gởi về Đan Viện Paul: mọi người kinh ngạc chứng kiến vết thẹo đã cũ do dấu lưỡi đòng xuyên qua trái tim, mà y học không sao giải thích được.
Chị được phong Chân Phước vào Chúa Nhật 13.11.1983. Lễ nhớ hàng năm vào ngày 28.8 (chị qua đời ngày 26.8 ). Chúng ta cầu nguyện cho chị sớm được phong Hiển Thánh, để vinh danh Thiên Chúa hơn nữa và mưu ích tối đa cho các linh hồn.
11. MỘT LỐI MỞ CHO MỌI NGƯỜI
Bạn thân mến, các vị Thánh Cát Minh trước khi là Tu Sĩ đã là Giáo Dân như bao người khác. Họ đã có thể đắm chìm trong cầu nguyện với tư cách là Giáo Dân. Tới một lúc, họ thấy đời sống cầu nguyện quá lôi cuốn nên họ mới vào Dòng. Chân Phước Ma-ri-a Chúa Giê-su Chịu Đóng Đinh cũng thế. Trước khi vào Dòng, chỉ là một thiếu nữ, đi ở đợ: Chị đã nhiều năm sống tinh thần cầu nguyện Cát Minh giữa lòng đời mà không ngờ.
Kinh nghiệm ấy chẳng phải là một gợi ý là một gợi ý cho bạn đó sao ? Bạn là lễ sinh, là giáo viên, là huynh trưởng, là ca viên, là những bạn trẻ đang đi học hoặc đang đi làm... Bạn là phụ huynh, là thành viên ban hành giáo, là giáo viên, là y sĩ, cán bộ công nhân viên... Dù là ai, bạn đều có thể là một người Cát Minh giữa đời, để được Chúa Thánh Thần cuốn theo dòng chảy của sự cầu nguyện trong Hội Thánh.
Những người Cát Minh giữa đời có thể liên kết với nhau thành những đơn vị Dòng Ba, độc thân hoặc có gia đình ( hiện Dòng Ba Cát Minh có mặt tại 45 quốc gia, với 680 Huynh Đoàn và trên 27.000 hội viên ), mà cũng có thể là những cư sĩ độc lập không liên kết thành tổ chức. Dù vậy, một cách vô hình, tất cả đều đang nối vòng tay cầu nguyện...
DỤC ĐỨC và TRĂNG THẬP TỰ, viết theo “Mariam, la petite Arabe” của cha AMÉDÉE BRUNOT