Chúa Nhật, 19/05/2013   Trung Tâm Mục Vụ Dòng Chúa Cứu Thế - 38 Kỳ Đồng, Phường 9, Quận 3, Sài gòn - ĐT: 9.316.322 (255) - 9.319.835 - Email: ttmvcssr@hcm.vnn.vn  
   
Suy niệm Tin Mừng
Bài giảng online
Bài giảng Lễ Xa Quê
Hành hương online
Câu chuyện online
Thước phim hàng tuần
Bảo vệ Sự Sống
Trợ giúp người nghèo
Bác Ái Phanxicô
Help The Poor
Giọt Nắng - Giọt Mưa
Ephata
Gospelnet
Halleluyah
Sống Lời Chúa
Di dân - Xa quê
Ma túy - HIV/AIDS
Sư phạm giáo lý
Năng động - Sinh hoạt
Văn kiện Giáo Hội
  :: Bản Anh ngữ
  :: Bản Pháp ngữ
  :: Bản Việt ngữ
  :: Văn kiện khác
Kinh Thánh Tân Ước
Tài liệu nghiên cứu
Ý cao tình đẹp
Hỏi đáp
Nguyện ca - Hoạt ca
Hình ảnh hoạt động
Quà tặng
Thiệp điện tử
 
 
Xin chân thành cảm ơn
các nhà tài trợ
 
   
 
  Văn kiện Giáo Hội - Bản Việt ngữ  
 
 


THÔNG ĐIỆP SPE SALVI

ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐÍCTÔ XVI GỞI
CÁC ĐỨC GIÁM MỤC CÁC LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ,
CÁC NAM NỮ TU SĨ VÀ TẤT CẢ ANH CHỊ EM TÍN HỮU
VỀ NIỀM HY VỌNG KI-TÔ GIÁO

( Kỳ 7 )

III. PHÁN XÉT NHƯ BỐI CẢNH CHO VIỆC HỌC HỎI VÀ THỰC HÀNH HY VỌNG

41. Trong phần kết của đoạn giữa Kinh Tin Kính của Giáo Hội – phần kể lại mầu nhiệm Chúa Ki-tô, từ lúc sinh ra hằng hữu bởi Chúa Cha và lúc sinh ra hữu hạn bởi Đức Ma-ri-a Đồng Trinh, qua Thập Giá và Phục Sinh đến khi Người lại đến lần thứ hai – chúng ta thấy câu: “Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.” Từ thời xa xưa, viễn ảnh của sự Phán Xét đã ảnh hưởng đến các Ki-tô hữu trong đời sống hàng ngày như một tiêu chuẩn để sắp xếp trật tự cho đời sống hiện tại của họ, như những lời réo gọi trong lương tâm của họ, và đồng thời như niềm hy vọng vào Công Lý của Thiên Chúa.

Đức Tin vào Chúa Ki-tô không bao giờ chỉ nhìn lui lại phía sau hay nhìn lên trên, mà cũng luôn luôn nhìn về phía trước về giờ phán xét mà Chúa luôn nhắc nhở. Việc nhìn về phía trước này làm cho Ki-tô hữu thấy được tầm quan trọng của hiện tại. Khi thiết kế các Thánh Đường Ki-tô Giáo, với ý hướng làm rõ chiều kích lịch sử và vũ trụ của Đức Tin nơi Đức Ki-tô, thông thường ở đầu phía đông của Thánh Đường, người ta trình bày Chúa Ki-tô trở lại như một vị vua – một biểu tượng của hy vọng; trong khi ở bức tường phía Tây người ta thường trình bầy cuộc Chung Thẩm như một biểu tượng của trách nhiệm chúng ta đối với đời sống mình – một hình ảnh theo đuổi và đồng hành với các tín hữu khi họ bước ra khỏi Thánh Đường để tiếp tục cuộc sống hàng ngày.

Tuy nhiên, khi hình ảnh về cuộc Chung Thẩm được phát triển, càng ngày những khiá cạnh kinh hoàng và đáng sợ càng được chú ý làm nổi bật lên, điều này hiển nhiên thu hút các họa sĩ hơn là vẻ huy hoàng của hy vọng, thường bị chôn vùi bên dưới những sự kinh hoàng.

42. Trong thời đại mới, ý tưởng Chung Thẩm đã mờ dần bên trong hậu trường: Đức Tin Ki-tô đã được cá nhân hóa và người tín hữu hướng nhiều hơn đến phần rỗi của chính linh hồn mình, trong khi sự suy tư về lịch sử thế giới lại bị lấn át bởi ý tưởng của thuyết tiến bộ. Tuy nhiên, nội dung căn bản của việc trông đợi ngày Chung Thẩm vẫn chưa mất đi: nó chỉ đơn thuần nhận lấy một hình thức hoàn toàn khác. Thuyết vô thần của thế kỷ 19 và 20 – trong nguồn gốc và mục đích của nó – là một học thuyết luân lý: một sự phản kháng chống lại những bất công của thế giới và của lịch sử thế giới.

Một thế giới được ghi dấu bởi quá nhiều những bất công, những đau khổ của người vô tội, và sự hoài nghi quyền lực, không thể nào là kỳ công trình của một Thiên Chúa tốt lành. Một Thiên Chúa chịu trách nhiệm về một thế giới như vậy không thể là một Thiên Chúa công chính, và càng không phải là một Thiên Chúa nhân lành. Vì lợi ích của luân lý, Thiên Chúa này phải bị thách đố. Vì không có một Thiên Chúa đứng ra tạo lập Công Lý, nên dường như chính con người ngày nay được mời gọi để thiết lập Công Lý.

Trước đau khổ của thế giới này, sự thách đố chống lại Thiên Chúa là có thể hiểu được; nhưng điều cho rằng nhân loại có thể và phải làm những gì không có Chúa nào thực sự làm hay có thể làm, vừa là quá ngạo mạn vừa là sai lầm từ bên trong. Tư tưởng này không phải ngẫu nhiên đã đưa đến những hình thức ghê gớm nhất của sự bạo tàn và những chà đạp Công Lý; nhưng chính là vì nó đã được đặt căn bản trên sự sai lầm nội tại của khẳng định này.

Một thế giới phải tự tạo ra Công Lý cho mình là một thế giới không có hy vọng. Không ai và không có gì có thể trả lời cho biết bao những thế kỷ đau thương. Không ai và không có gì có thể bảo đảm rằng sự hoài nghi quyền lực – bất kể nó mang mặt nạ ý thức hệ nào – sẽ ngừng thống trị thế giới này. Chính vì vậy mà những tư tưởng gia nổi tiếng của Trường Phái Frankfurt, như Max Horkheimer và Theodore Adorno đã chỉ trích cả thuyết vô thần lẫn hữu thần.

Horkheimer loại trừ thẳng tay khả năng tìm được một cái gì trong trần thế có thể thay thế được Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng chối bỏ hình ảnh của một Thiên Chúa tốt lành và công chính. Đề cập đến việc Cựu Ước kêu gọi loại trừ triệt để những ngẫu tượng, ông ta đã coi “sự khao khát một Đấng toàn năng khác” dù không tiếp cận được – như một tiếng kêu đòi hướng đến lịch sử thế giới. Adorno cũng mạnh mẽ ủng hộ một thái độ chối bỏ hoàn toàn những hình tượng, mà lẽ tất nhiên bao gồm sự loại bỏ bất cứ “hình ảnh” nào của một Thiên Chúa yêu thương. Mặt khác, ông cũng thường xuyên nhấn mạnh cái biện chứng “tiêu cực” này và khẳng định rằng Công Lý – một Công Lý chân thật – đòi hỏi một thế giới trong đó, “không những các đau khổ hiện tại phải được loại trừ, mà cả quá khứ không thể đảo ngược được cũng phải được đền bù lại.” 30

Tuy nhiên, nói một cách tích cực, dù theo ông vẫn là những biểu tượng chưa đầy đủ, thì điều này có nghĩa là không thể nào có Công Lý khi không có sự sống lại của kẻ chết. Nhưng như vậy, điều này sẽ liên quan đến “sự sống lại của thân xác, một điều hoàn toàn xa lạ đối với học thuyết và phạm trù của thuyết tinh thần Tuyệt Đối.” 31

43. Ki-tô hữu cũng có thể và phải thường xuyên học hỏi từ sự từ bỏ hoàn toàn những ngẫu tượng được chứa đựng trong điều răn thứ nhất của Thiên Chúa ( x. Xh 20, 4 ). Sự thật của thần học tiêu cực được nhấn mạnh trong Công Đồng La-tê-ra-nô IV, là Công Đồng đã khẳng định rõ rằng dù cho có sự tương đồng đến đâu đã được thiết lập giữa Tạo Hóa và tạo vật, sự dị biệt luôn luôn vẫn là lớn hơn. 32 Dù sao chăng nữa, đối với các tín hữu, sự từ bỏ các hình tượng không thể đi đến mức quá khích khiến cho người ta phải trở nên giống như Horkheimer và Adorno, là chối bỏ cả hai học thuyết – hữu thần và vô thần. Chúa đã tự cho mình một “hình ảnh” trong Đức Ki-tô xuống thế làm người.

Trong Người, Đấng bị đóng đinh vào thập giá, sự bác bỏ những hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa đã được đưa đến tột đỉnh. Chúa giờ đây mạc khải thiên nhan thật sự của Người trong hình ảnh của kẻ khổ đau đang chia sẻ hoàn cảnh của con Người bị Chúa bỏ rơi bằng cách tự sa vào hoàn cảnh ấy. Kẻ vô tội chịu đau khổ này đã mang lại niềm hy vọng xác quyết là có một Thiên Chúa, và Thiên Chúa có thể tạo dựng Công Lý theo cách thức chúng ta không thể hình dung ra được, nhưng lại có thể bắt đầu hiểu được qua Đức Tin. Vâng, có sự sống lại của thân xác. 33 Có Công Lý. 34 Có một sự “đền bù lại” các đau khổ trong quá khứ, một sự sửa sai giúp cho mọi sự được đúng trở lại.

Vì lý do này, niềm tin vào cuộc Chung Thẩm là niềm hy vọng trước hết và trên hết – một nhu cầu đã được biểu hiện nhãn tiền qua biết bao các cuộc nổi loạn trong các thế kỷ gần đây. Tôi tin rằng vấn đề Công Lý là luận cứ thiết yếu, hay trong bất cứ trường hợp nào cũng là luận cứ mạnh mẽ nhất cho Đức Tin vào đời sống vĩnh cửu. Nhu cầu hoàn toàn cá nhân của chúng ta cho một sự viên mãn đã bị chối từ trong đời này, cho một tình yêu vĩnh cửu mà chúng ta trông đợi, chắc chắn là một động lực quan trọng cho niềm tin là con người được sinh ra cho thế giới vĩnh hằng; nhưng, chỉ trong mối liên hệ với sự thật theo đó sự bất công của lịch sử không thể là tiếng nói sau cùng thì lúc đó sự cần thiết cho việc Đức Ki-tô trở lại và cho một đời sống mới, mới trở nên hoàn toàn đáng thuyết phục.

44. Nhân danh Công Lý để chống lại Thiên Chúa chẳng có ích lợi gì. Một thế giới không có Thiên Chúa là một thế giới không có hy vọng ( x. Ep 2, 12 ). Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tạo ra Công Lý. Và Đức Tin cho chúng ta biết chắc là Người đã làm như vậy. Hình ảnh của cuộc Chung Thẩm chủ yếu không phải là một hình ảnh của kinh hoàng, nhưng là hình ảnh của hy vọng; đối với chúng ta đó còn có thể chính là hình ảnh có tính chất quyết định của hy vọng. Không phải đó cũng là một hình ảnh đáng khiếp sợ sao ? Tôi phải nói: đây là một hình ảnh gợi ra trách nhiệm, do đó, là một hình ảnh của sự kinh hãi mà Thánh Hi-la-ri-ô đã đề cập đến khi ngài nói là tất cả mọi sự sợ hãi của chúng ta đều có chỗ trong tình yêu. 35

Thiên Chúa là Công Lý và Ngài thiết lập Công Lý. Đây là niềm an ủi và niềm hy vọng của chúng ta. Và trong Công Lý của Chúa cũng có ân sủng. Chúng ta biết điều này khi hướng nhìn lên Chúa Ki-tô bị đóng đinh và phục sinh. Cả hai điều này – Công Lý và ân sủng – phải được xem xét trong mối tương quan nội tại đúng đắn của chúng. Ân sủng không xóa bỏ Công Lý. Ân sủng không biến sự sai trái thành đúng đắn. Đó không phải là một miếng bọt biển để tẩy xóa mọi sự, khiến cho bất kể điều gì một cá nhân làm dưới thế đều có cùng một giá trị như nhau.

Chẳng hạn, Dostoevsky hành động đúng khi ông chống lại thể loại thiên đàng, và ân sủng này trong tác phẩm Anh Em Nhà Karamazov. Các kẻ dữ, cuối cùng, không được ngồi vào bàn của bữa tiệc vĩnh cửu bên cạnh những nạn nhân của chúng, như thể đã không có gì xảy ra. Ở đây, tôi muốn trích một đoạn của Plato trình bầy một tiên đoán về sự phán quyết công bình mà trong nhiều khía cạnh cũng đúng và hữu ích cho các Ki-tô hữu. Dù không dùng đến các hình ảnh huyền thoại, ông trình bầy sự thật với một sự minh bạch trong sáng; ông nói rằng cuối cùng các linh hồn sẽ phải trần truồng đứng trước vị thẩm phán.

Vấn đề không còn hệ tại ở chỗ họ đã từng là chi trong lịch sử, nhưng chính ở điểm họ là gì trong sự thật: “Thông thường, khi vị thẩm phán phải xử tội một nhà vua hay một vị nguyên thủ quốc gia, ngài không thấy linh hồn này có một cái gì tốt lành cả; chỉ thấy linh hồn này hằn lên những vết sẹo bởi những hành động gian trá và sai trái”; linh hồn ấy bị méo mó vì những lừa dối và kiêu căng, và không có gì ngay thẳng, vì sự thật không có chỗ trong sự phát triển của linh hồn ấy. Quyền hành, xa hoa, kiêu ngạo, và trụy lạc khiến cho linh hồn ấy đầy những sự bất quân bình và ghê gớm đến nỗi sau khi xem xét, vị thẩm phán tống ngay nó vào ngục, nơi khi đến đó nó sẽ phải chịu những hình phạt tương xứng”.

Nhưng, đôi khi, mắt vị thẩm phán cũng dừng lại trên một linh hồn khác đã sống trong sạch và chân thật, “thì ngài kính phục và cho gửi ngay đến những hòn đảo của những linh hồn được chúc phúc.” 36 Trong dụ ngôn người giầu có và La-da-rô ( x. Lc 16, 19 – 31 ), Chúa Giê-su răn dạy chúng ta qua hình ảnh của một linh hồn bị thiêu hủy bởi sự ngông cuồng và phung phí; người này đã tạo nên một hố sâu không vượt qua được giữa hắn và người nghèo khó; hố sâu của sự giam mình trong những thú vui vật chất; hố sâu của sự bỏ quên người khác, của sự thiếu khả năng yêu thương, một hố sâu đã hình thành một nỗi khát khao thiêu đốt và không thể nào thỏa mãn. Chúng ta phải ghi nhận rằng trong dụ ngôn này, Chúa Giê-su không đề cập đến định mệnh cuối cùng sau cuộc Chung Thẩm, nhưng lại đưa ra một quan niệm mới, inter alia, được thấy trong Do Thái Giáo sơ khai, đó là một trạng thái trung gian giữa cái chết và sự sống lại, một trạng thái trong đó phán quyết cuối cùng chưa được ban ra.

+ Đức Giáo Hoàng BIỂN ĐỨC XVI ( Còn tiếp 1 kỳ )

 
 
  Lượt người xem: 1352 [ Giới thiệu cho bạn bè | Trang trước |  Đầu trang ]
 
Trung Tâm Mục Vụ Dòng Chúa Cứu Thế - 38 Kỳ Đồng, P.9, Q.3, Sài gòn - ĐT: 9.316.322 (255) - 9.319.835 - Email: ttmvcssr@hcm.vnn.vn