BẢO VỆ MẦM SỐNG TRONG CÁC GIA ĐÌNH KI-TÔ
Tôi rất ngưỡng mộ những bài của Ephata về Bảo Vệ Sự Sống: nỗ lực cứu những thai nhi trước tai họa bị giết chết; mang các thai nhi đã chết đi chôn cất; giúp đỡ người gìa, khuyết tật, nghèo khổ; giáo dục trẻ thơ...
Cách đây ba năm, trong một dịp đi bộ ngoài công viên, tôi tình cờ gặp lại một người quen. Chị độ 35 tuổi nhưng còn rất đẹp. Chị thao thao kể cho tôi nghe về gia đình hạnh phúc của chị. Chị có hai đứa con, một trai và một gái, rất đúng với khuynh hướng thời đại. Đứa nào cũng thông minh xinh đẹp, học giỏi, ngoan ngoãn. Chồng chị là một nhà kinh doanh thành đạt, có công-ty riêng, rất thương yêu vợ con. Anh chị có nhiều nhà cửa đất đai. Chị nói hoài mà không biết chán. Rồi chị chợt nhận ra tôi cứ nghe mà chẳng khen chị lấy một câu. Chị có vẻ hờn mát: “Nhiều người ao ước được như tôi.”
Không hiểu tại sao lúc đó tôi lại trả lời: “Anh chị rất là dở !”
Chị giật mình bàng hoàng, không thể tin được là đã nghe câu đó: “Xin lỗi, anh mới nói gì ?” Có lẽ chị chẳng ngần ngại tặng tôi một cái tát nẩy lửa nếu tôi dám lập lại lời đó thêm một lần.
Tôi hỏi chị: “Tại sao anh chị lại chỉ có 2 đứa con ?”
Chị nhìn tôi ra chiều sao tôi chậm tiến thế và nói ra 1001 lý do, cái nào cũng có vẻ có lý cả mà quý độc gỉa đã nghe đến 1001 lần nên tôi không dám lập lại kẻo nhàm tai qúy vị.
Tôi nói thêm: “Hai anh chị đều không phải cán bộ viên chức nên chẳng bị ràng buộc gì. Cả hai đều còn trẻ trung, mạnh khoẻ, xinh đẹp, có học ( chị là doanh nhân, anh là kỹ sư ), giầu có... thương yêu nhau đậm đà và là người Công Giáo gương mẫu nên việc chỉ có 2 con là một điều rất dở !”
Chị sững sờ đứng lại trố mắt nhìn tôi. Một lát sau bình tĩnh lại, chị nguýt cho tôi một tiếng “xí” dài, ra điều chị không thèm chấp nhất với một tên khùng như tôi. Tôi thầm nghĩ có lẽ không bao giờ chị thèm nhìn lại tôi nữa.
Sau đó tôi không hề gặp lại chị cho mãi đến một năm sau, tới phiên tôi ngỡ ngàng khi nghe chị gọi điện thoại khẩn khoản mời tôi đến dự tiệc mừng đầy tháng của đứa con thứ ba của anh chị. Họ hàng hai bên lui tới tấp nập, ngôi nhà tưng bừng náo nhiệt, tiếng cười vui rộn ràng như đang có một đám cưới. Anh chị tiếp đón tôi rất vồn vã, tỏ lòng mang ơn tôi thật nhiều. Anh tâm sự rằng ngày hôm đó sau khi gặp tôi xong, chị về khóc lóc tâm sự với anh. Anh tức lắm muốn đi kiếm tôi ngay để dần cho một trận cho hả giận.
Nhưng khi bình tâm lại họ thấy mình dở thật, vì mọi điều kiện đều thuận lợi đối với họ nhưng họ lại lạnh lùng dứt khoát chận đứng đường vào đời của những đứa con khác mà rất có thể Chúa còn ban thêm cho. Anh chị chia sẻ rằng tuy cháu thứ ba mới sinh ra đời mà họ rất mừng vui và cảm động, như thể tìm lại được một đứa con đã mất, thấm thía được tâm trạng của người cha trong Tin Mừng: “Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy." ( Lc 15, 31 ).
Cháu bé vẫn luôn là một niềm vui lớn cho gia đình. Hai bên họ hàng nội ngoại đều hân hoan vì họ đã qúa quen trước thực trạng phổ biến trong bao nhiêu năm nay: “Dù gái hay trai, chỉ hai là đủ.” Thế mà bây giờ bỗng dưng bây giờ lại có thêm một báu vật, không ai làm ra được, chỉ có “trời cho” thì mới có được. Hai anh chị của cháu bất ngờ có thêm em nhỏ, mừng không kể xiết, bỗng thấy mình lớn ra, phải ngoan hơn, biết thương yêu và có trách nhiệm chăm sóc em nhỏ.
Hai vợ chồng lại thương yêu nhau hơn. Anh bớt hẳn các cuộc “liên hoan” bên ngoài, ở nhà nhiều hơn để chăm sóc cho vợ con. Chị nghiệm ra đứa con nhỏ đã lấy đi tất cả stress của chị. Trong chị chỉ còn một niềm vui thật là bao la.
Tôi hoàn toàn không có ý cổ vũ cho việc sinh con thứ ba, thứ tư...mà xã hội hay chê bai, cho rằng như thế là cổ hủ và mê muội vì nước ta đã quá đông dân rồi, cơ sở hạ tầng đã quá tải, sinh con cho lắm rồi để mặc không nuôi nấng dạy bảo cho tốt thì lại thành gánh nặng cho xã hội.
Quan niệm của tôi là gia đình Công Giáo phải là cái nôi Bảo Vệ Sự Sống, không những đó là sự sống đã hình thành trong lòng mẹ mà còn là những mầm sống tiềm tàng mà cuộc sống hôn nhân phải luôn sẵn sàng đón nhận như một thể hiện của ý Chúa.
Người ta đã quá quen với quan điểm phổ biến hiện nay là chuyện có bao nhiêu con, cũng như mọi việc khác trên đời, là cần theo một kế hoạch mà họ toàn quyền quyết định. Họ quên rằng con cái không phải là một sản phẩm do họ tự tạo ra. Không ai có thể làm ra một đứa con được. Con cái là hoa trái bắt buộc phải có của cây tình yêu giữa hai vợ chồng, khi nào hai người còn sống với nhau và còn có khả năng sinh con thì không thể dứt khoát ấn định số con của họ bằng các biện pháp tiêu diệt sự sống. Sở dĩ phải nói như thế vì trong số tất cả bè bạn và họ hàng Công Giáo của tôi, khi hỏi đến, tôi chưa thấy ai kiên trì áp dụng các biện pháp tránh thai tự nhiên như tiết dục, đo nhiệt độ, đo độ nhầy hay tính ngày rụng trứng cả. Các biện pháp này rất khó áp dụng và, ngoại trừ việc tiết dục, không thể bảo đảm kết quả tránh thai 100%.
Khi mới lấy nhau người ta có thể áp dụng nhưng khi đã có đủ số con theo “kế hoạch” thì họ lại vô tư quay sang các biện pháp tránh thai quyết liệt và trái tự nhiên. Nhẹ thì dùng bao cao-su, màng chắn, uống thuốc ngừa thai, dùng thuốc diệt tinh trùng. Nặng hơn và mang tính cách phá thai “non” là đặt vòng, uống thuốc sau khi giao hợp, khi trễ kinh thì uống thuốc điều hòa ngay. Trễ hơn nữa thì đi hút điều hòa. Mấy đứa em của tôi đều vô tư đi triệt sản sau khi có đủ số con theo ý muốn. Vì xã hội đưa người ta vào một mê hồn trận ngôn từ nên người ta thoải mái khi phạm tội tầy đình. Thực chất là giết con nhưng lại cho rằng chỉ là kế hoạch gia đình qua đặt vòng, hút điều hòa, nạo thai...
Ngày nay rất rất nhiều các gia đình Công Giáo đã luôn kế hoạch “tốt” như thế và còn hãnh diện vì thuộc thành phần tiến bộ chỉ có một đến hai con mà chẳng cần xét xem các biện pháp tránh thai của họ cóphù hợp với luật Chúa và hướng dẫn của Giáo hội hay không.
Một gia đình có kế hoạch cứng ngắc như vậy không phải là nơi ý Chúa được thể hiện. Lời nguyện của Kinh Lạy Cha mà họ đọc hàng ngày “Ý Cha thể hiện dưới đất” đã bị họ lạnh lùng phủ nhận ngay từ trong trứng nước. Không ai có thể ngăn cản ý Cha thể hiện trên Trời nhưng với tự do của mình thì người ta có toàn quyền từ chối ý Cha nơi cuộc đời mình và gia đình mình. Nếu ý Chúa không được thể hiện nơi đời tôi thì tất cả cuộc sống của tôi sẽ thành một tai họa cho chính tôi.
Chị Elizabeth Anscombe ( 1919 – 2001 Ảnh chụp lấy từ Googlte ), giáo sư tài danh của Đại Học Oxford và Cambridge, được nhiều nhà chuyên môn công nhận như triết gia lỗi lạc nhất của nước Anh trong th ế kỉ 20, có đời sống gia đình rất gương mẫu. Dù công việc hết sức bề bộn chị vẫn sinh đến 7 đứa con. Thời gian mang thai, sinh đẻ và nuôi con tại nhà không hề làm suy giảm sức sáng tạo triết học rất phong phú của chị. Ngày nay có rất nhiều bạn trẻ tài năng trong các trường đại học hàng đầu tại Hoa Kỳ chọn chị làm thần tượng. Noi gương chị, họ chủ trương chỉ nên có quan hệ tình dục sau khi đã kết hôn và không ngần ngại có nhiều con.
Quý vị có thấy lạ lùng không, khi các bạn trẻ này lại tỏ lòng khâm phục một người đàn bà 82 tuổi, già nua, xấu xí, có đến 7 đứa con mà không phải là các ngôi sao ca nhạc hay điện ảnh như đa số bạn trẻ khác ? Lòng ngưõng mộ này còn khiến họ tự nguyện sống tiết dục trong đời sinh viên mà không nhà mô phạm nào có thể o ép họ được. Chính là đời sống gia đình tuyệt vời, chứ không phải những tư tưởng triết học cao siêu của chị Anscombe, đã tỏa sáng và làm cho họ hiểu rõ đâu mới là chân gía trị của cuộc sống.
Có một NữTu nói với tôi rằng chị chưa hề thấy có người nào thuộc một gia đình ít con vào tu trong Dòng. Chúa không kỳ thị con cái của các gia đình ít con mà không gọi họ đi tu đâu. Điều chắc chắn là dù có muốn, Ngài cũng chẳng thể nào thể hiện được ý của Ngài nơi những gia đình đã đóng hết mọi cánh cửa trước ý muốn của Ngài.
Nếu chúng ta cũng chỉ sống như vậy thì chúng ta còn tệ hơn những cô gái tàn nhẫn giết chết con mình, những người đàn ông chỉ biết có lạc thú rồi chối bỏ mọi trách nhiệm, những tay cò phá thai... mà chúng ta dám nhân danh Bảo Vệ Sự Sống và cả Thiên Chúa nữa mà lên án họ.
"Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều” ( Lc 12, 47 ).
Độc giả NGỌC VĂN, Sài-gòn 12.2005