GIỌT NẮNG – GIỌT MƯA
MỘT NGÀY ĐỘT PHÁ Ở PHÚ TẢO
Từ sáng sớm trời đã đổ mưa như trút, sân đất chung quanh Nhà Thờ Phú Tảo sũng nước, những tấm bạt căng lên khắp sân rộng để đón tiếp khách thập phương bây giờ xiêu vẹo méo mó. Hôm qua trời đẹp mà nóng, đêm văn nghệ của nhóm thanh niên sôi nổi bao nhiêu, thì hôm nay với cơn mưa này lễ phong chức Linh Mục bị đảo lộn bấy nhiêu. Bởi vì ban tổ chức đã dự liệu một nghi lễ “hoành tráng”. Cả dàn sân khấu khung sắt thép mượn của Giáo Xứ Hàm Long trên Hà Nội đã dựng lên thật bề thế, bà con Phú Tảo lại ráp vào đấy hai dàn khán đài nữa, dựng bằng những thân cây tre nứa địa phương. Đêm qua đây là nơi biểu diễn văn nghệ, hôm nay đây sẽ là lễ đài. Bốn phương thiên hạ sẽ được nhìn thỏa thích. Là vì từ xa xưa tới giờ chưa hề có lễ phong chức Linh Mục ở Phú Tảo. Bà con, cả giáo lẫn lương, náo nức cả lên suốt mấy hôm nay vì biến cố hi hữu này.
Chiều qua bản tin dự báo thời tiết nói hôm nay có mưa. Mọi người mừng vì mới trải qua một cơn nóng cháy da cháy thịt, cái nóng như là lò lửa của mùa hè miền Bắc. Ai cũng bảo Chúa thương ban cho một ngày lễ mát mẻ. Chúa thương ban cho mưa thật ngay từ sáng sớm, nhưng Chúa thương dạt dào quá. Mưa thế này chả có lều bạt nào chịu nổi. Quốc lộ mới mở rộng mà cũng ngập nước như sông, đường vào Nhà Thờ lênh láng. Chỉ còn cách mau mau thu dọn, chuyển nơi hành lễ từ lễ đài vào bên trong Nhà Thờ, mà Nhà Thờ thì hẹp lấy chỗ đâu cho từng ấy người.
Cũng may, khi các khách phương xa vừa tới nơi thì mưa đã ngơn ngớt. Khi lễ bắt đầu thì tạnh hẳn. Những người ở ngoài sân thì chịu khó lép nhép một tí dưới chân, nhưng không sợ ướt đầu. Dù phải chịu đựng một chút bất tiện, chẳng ai muốn ra về. Không những chỉ dân Phú Tảo, mà còn nhiều người từ thị xã Hải Dương vào, từ Hải Phòng sang. Tân Linh Mục Nguyễn Văn Hội là một Tu Sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng có một tu viện lớn ở Hà Nội, nên nhà dòng Hà Nội đổ về, kéo theo một đoàn của Giáo Xứ Nam Đồng, Thái Hà, quận Đống Đa. Phó Tế Hội khi còn học ở Chủng Viện đã đi thực tế mục vụ ở một số xứ đạo lớn dưới Bùi Chu, Nam Định, xem ra được bà con yêu mến, hôm nay dưới thành Nam lên đây ba xe rôm rả.
Lại một tu sĩ nào đấy làm việc tông đồ trên miền núi cao, muốn cho bà con dân tộc tham gia một lễ truyền chức đã rủ xuống đây một đoàn thanh niên và thiếu nhi H’mông ( xưa gọi là người Mèo ) mặc sắc phục dân tộc cổ truyền hát ca những âm điệu núi rừng trầm trầm đều đều. Có khách từ miền Nam ra, vì Tân Linh Mục đã học thần học suốt mấy năm ở Sài-gòn. Ấy là không kể các anh em cùng dòng với Tân Linh Mục, những bạn đồng song chủng viện ngày nay phục vụ rải rác nhiều nơi, từ Huế, từ Quảng Ngãi, từ Kontum hôm nay hẹn nhau tề tựu... Bấy nhiêu vùng trời tu hội ở cái Xứ Đạo nông thôn nhỏ bé này tạo ra những nét khác lạ, chả bù cho bao nhiêu năm tháng dài ngày nảo ngày nào cũng giống nhau.
Thế cho nên ngay đầu lễ Đức Cha Vũ Văn Thiên, Giám Mục Hải Phòng, thấy cần có một lời giải thích, mà cũng là một lời tự sự. Đức Cha giải thích tại sao không tổ chức lễ ở Nhà Thờ Chính Tòa, giữa thành phố Hải Phòng, hoặc một nơi rộng lớn như Nhà Thờ Kẻ Sặt đã từng nêu danh trong lịch sử. Đức Cha cho biết xứ Phú Tảo này năm 1939 thống kê được 1.370 Giáo Dân, vậy mà sau mấy cuộc chiến tranh, những biến đổi liên tiếp về chính trị, xã hội, văn hóa, những cuộc di cư, di tản, nay chỉ còn 70 người Công Giáo, Nhà Thờ thì vắng lạnh, rêu phong mấy chục năm nay. Cả vị Giám Mục lẫn thầy Phó Tế trẻ sắp lãnh sứ vụ Linh Mục đều đồng tâm với nhau chọn nơi này cử hành lễ truyền chức, ấy là muốn nói lên một chí nguyện: dựng lại Nhà Chúa, tập họp lại dân Chúa, những người đã tản mác, những người đã lãng quên, và nhất là loan Tin Mừng cho những người chưa từng được nghe, vẫn giữ kín trong lòng một nỗi chờ đợi, khao khát, mà không nhận ra được mình đợi chờ, khao khát cái gì.
Thú thật khi nghe Đức Cha nói về những điều cao cả ấy, đầu óc tôi lại vương vấn một hình ảnh nghĩ như quá sức tầm thường: tôi nghĩ đến chai nước tương. Chả là hộ khẩu tôi ở Sài-gòn. Mà Sài-gòn thì mấy hôm nay báo chí và dư luận ầm ĩ lên về chuyện nước tương. Người ta phát hiện những cơ sở sản xuất đã pha vào cái món nước tương khoái khẩu chất 3-MPCD gây ung thư, có nơi vượt mức cho phép đến 20 lần. Đã thế Viện Vệ Sinh Y Tế Công Cộng thành phố HCM đã phát hiện vụ này từ năm 2004 vẫn cứ yên lặng suốt mấy năm nay để cho nhân dân cứ ăn nước tương tràn cung mây. Ngay sáng hôm ra Bắc dự lễ ở Phú Tảo, tôi đã tiễn đưa cha Lê Thanh Châu đến nơi an nghỉ cuối cùng. Cha qua đời vì bệnh ung thư. Vị Linh Mục hiền lành nhỏ nhẹ ấy cũng là nạn nhân của nước tương chăng ?
Chuyện nước tương chưa xong lại đến chuyện xăng bẩn. Mọi người la lối inh ỏi vì những chất độc hại trong xăng dầu cũng vượt ngưỡng cho phép hai ba lần. Vậy mà hằng ngày đường phố chúng ta vẫn nghẹt cứng xe cộ chạy bon bon. Chúng ta vừa chạy vừa hít vào thở ra những thứ độc dược.
Nghiệm ra rằng cái mà xã hội chúng ta đang thiếu, cái mà xã hội chúng ta đang đánh mất không biết ở nơi nào, ấy là chữ Tâm, Cái Tâm lành, cái lương tâm. Nó lạc đâu rồi, nó trốn đâu rồi. Không thấy nó chi phối, không thấy nó thống trị cuộc sống chung – liệu nó có ẩn nấp đâu trong những cuộc sống riêng chăng ? Chuyến xe đêm chạy đường dài Bắc Nam, có một lúc dừng lại cho hành khách ngơi nghỉ giữa một quãng vắng, núi rừng cũng gần đâu đây. Ngẩng đầu lên thấy một bầu trời đầy sao, thấy cả giải Ngân Hà trắng rộng vô biên. Tôi bỗng giật mình, đã bao lâu nay không thấy cảnh này. Chỉ có khi nào lên cao nguyên ở một buôn dân tộc, hay những chuyến đi đêm giữa quãng vắng thế này mới thấy sao. Ở thành phố, có chăng còn Huế giống như một khu vườn lớn. Đêm khuya đứng ở hành lang Dòng Chúa Cứu Thế với cây cối um tùm bao quanh, còn cảm nhận được ánh trăng, ánh sao. Còn ở những thành phố lớn khác, ánh đèn và khói bụi ô nhiễm che mất tiệt những vẻ huy hoàng tự nhiên của Đấng Tạo Hóa. Và nhiều khi Cái Tâm của con người cũng bị che lấp như sao trời.
Xin Chúa, xin Đức Cha, xin cha mới tha tội cho con đã nghĩ đến nước tương và xăng dầu giữa buổi lễ thiêng liêng thế này. Cũng tại Đức Cha, tại cha mới thôi. Các ngài khơi lên cái ước vọng loan Tin Mừng, Phúc Âm hóa. Ai muốn nói gì thì nói, muốn phân tích hô hào thế nào mặc ý, nhưng nguyên nhân quyết định cho sự đánh mất Cái Tâm là do người ta đã tạo ra một cuộc sống không có đường để tiếp cận với Chúa. Hôm nay, lễ nghi trọng thể vậy, nhưng xét cho cùng rồi Đức Cha, và Tân Linh Mục cũng chỉ có Lời Chúa để mang vào đời, ngoài ra có gì nữa đâu ? Hạt giống li ti đấy, phải mọc thành cây cho chim trời nương náu đấy.
Đức Cha Hải Phòng là người họ Vũ. Gặp họ Vũ thì ngài hỏi đã về thăm mộ tổ và đền thờ tổ ở Mộ Trạch, Hải Dương chưa. Mộ Trạch ở cách Phú Tảo này không xa. Ở đấy có một gò đất nổi lên giữa đồng trống. Tương truyền đó là mộ tổ của họ Vũ Hồn. Trên đỉnh gò còn một tấm bia trắng của khâm sứ Tây thời Pháp thuộc để lại, công nhận rằng đây là mộ tổ của một dòng họ lớn, cấm không ai được xâm phạm. Về ngôi mộ này có nhiều truyền thuyết li kỳ liên quan đến khoa địa lý. Xét về niên đại, ngôi mộ này phải lên tới thời Bắc thuộc. Con cháu họ Vũ từ Bắc chí Nam có khi sống rất xa nhau, không còn đi lại với nhau nữa, mà vẫn chung những huyền thoại, những truyền thuyết. Ví dụ như cha Võ Tá Khánh với tôi, ngay từ hồi chưa gặp, chưa quen biết nhau, không hẹn mà kẻ trước người sau cứ theo gia phả của chi mình trở về đây viếng mộ tổ. Trong gia phả của tộc trưởng ở đây còn ghi đến đời thứ mấy thì con cháu họ Vũ có người theo “đạo Da-tô” và đã tách ra di cư về mạn Nam Định. Thế còn gia tộc Đức Cha Vũ Văn Thiên đâu có di cư về thành Nam, như vậy chắc chi tộc này tìm thấy “đạo Da-tô” muộn hơn chi tộc bên tôi. Nói đúng ra, không kể các vị đã qua đời, hiện nay còn có Đức Cha Phó Nha Trang cũng là con cháu Vũ Hồn, vì ngài chung chi tộc với đại tướng Võ Nguyên Giáp, mà đại tướng thì cũng đã về Mộ Trạch nhận họ."
Tôi kể lể dài dòng về họ hàng như vậy là vì lâu nay tôi có một cảm giác khá đậm đà: có khá nhiều nhân vật lịch sử ghi danh nay ta có duyên được gặp các hậu duệ, thì thấy nhiều người đã gặp Chúa và theo Chúa. Một lần tìm hiểu tiểu sử Đức Cha Lê Quý Thanh ngày xưa, làm Giám Mục Phó Phát Diệm, tôi bỡ ngỡ phát hiện ngài thuộc dòng dõi nhà bác học Lê Quý Đôn. Đến Huế tôi hay tản bộ dọc bờ kênh An Cựu, mỗi lần đi qua phủ thờ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, bậc thi bá của triều Nguyễn, tôi lại nghĩ đến cha Bửu Dưỡng cùng rất nhiều những ông Bửu, ông Vĩnh, ông Bảo khác thuộc dòng họ các vị vua cấm đạo mà lại tìm ra đường vào đạo. Cha Lê Thanh Châu mà tôi vừa đưa tang mấy hôm trước là dòng dõi ông Nguyễn Lữ triều Tây Sơn, gia đình cha vì sợ vua Gia Long bách hại nên mới đổi thành họ Lê, nhưng ký ức về tổ tiên thì vẫn không quên. Hỏi chuyện anh bạn tân tòng Phạm Đăng Bính một hồi thì được biết anh là hậu duệ của ông Phạm Đăng Hưng v.v... Thì ra rất nhiều nhân vật đã góp phần làm nên lịch sử Việt Nam mà dòng dõi sau này đã cập vào bến bờ của Chúa. Mọi dòng sông đều về biển chăng ?
Hôm nay nghe Đức Cha họ Vũ nói về sứ mệnh truyền bá Tin Mừng, tôi lại liên tưởng đến bao nhiêu dòng họ trên đất nước mình. Nói rằng muôn sông đổ về biển cả, nhưng đâu có thiếu những thác ghềnh cheo leo. Bằng chứng là đôi khi phải tan tác xác xơ như cái cộng đoàn mà Đức Cha đang muốn gây dựng lại đây. Hình như cứ yên thân được ít lâu các đồ đệ Chúa lại phải cọ xát với thử thách, để cho những nhân tố gì là rơm rạ cháy đi, những là đá vàng còn lại. Chết đi rồi sống lại trong một tiến trình gây dựng liên tục, không chỉ đối với từng cá nhân hay gia đình, mà đối với từng giai đoạn lịch sử, cụ thể là giai đoạn ta đang sống bây giờ...
VŨ, Huế 20.6.2007 ( Còn tiếp 1 kỳ )