Thứ Sáu, 24/05/2013   Trung Tâm Mục Vụ Dòng Chúa Cứu Thế - 38 Kỳ Đồng, Phường 9, Quận 3, Sài gòn - ĐT: 9.316.322 (255) - 9.319.835 - Email: ttmvcssr@hcm.vnn.vn  
   
Suy niệm Tin Mừng
Bài giảng online
Bài giảng Lễ Xa Quê
Hành hương online
Câu chuyện online
Thước phim hàng tuần
Bảo vệ Sự Sống
Trợ giúp người nghèo
Bác Ái Phanxicô
Help The Poor
Giọt Nắng - Giọt Mưa
Ephata
Gospelnet
Halleluyah
Sống Lời Chúa
Di dân - Xa quê
Ma túy - HIV/AIDS
Sư phạm giáo lý
Năng động - Sinh hoạt
Văn kiện Giáo Hội
Kinh Thánh Tân Ước
Tài liệu nghiên cứu
Ý cao tình đẹp
Hỏi đáp
Nguyện ca - Hoạt ca
Hình ảnh hoạt động
Quà tặng
Thiệp điện tử
 
 
Xin chân thành cảm ơn
các nhà tài trợ
 
 
Chọn số báo:
 
  CHUYÊN SAN GIÁO LÝ SỐ 112 – 01.08.2009  
 
 

TÌM HIỂU THÁNH LỄ ( Kỳ 7 )


CHƯƠNG 4
PHỤNG VỤ THÁNH THỂ

35. KHI KÍNH NHỚ..., CHÚNG TÔI DÂNG...

Câu kết thúc những lời truyền phép đưa ngay đến kinh tưởng niệm: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Chữ tưởng niệm là dịch từ tiếng Hy Lạp anamnesis ( cũng như chữ tạ ơn là dịch từ tiếng eucharistia; hai chữ này được dùng trong Phúc Âm và thư Thánh Phaolô ).

Tưởng niệm là nhớ đến. Nhưng, cũng như tạ ơn có nghĩa sâu xa hơn cám ơn, thì tưởng niệm cũng có nghĩa sâu xa hơn là nhắc lại, nhớ lại. Đó là một hành động cụ thể, có thật bề ngoài chứ không phải chỉ ở trong trí nhớ. Đó là một bảo đảm, một bằng chứng. Trong các Phụng Vụ Đông và Tây Phương, việc tưởng niệm là đối tượng chính của kinh nguyện sau truyền phép, kinh nguyện này không phải là một kinh thường để tưởng nhớ. Việc tưởng niệm cũng như việc tạ ơn, là một hoạt động, cốt tại việc làm những gì Chúa đã làm, như Ngài đã truyền dạy: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

Cũng như tất cả các Thánh Lễ ( chứ không phải nguyên bài Tiền Tụng ) là tạ ơn, thì tất cả Thánh Lễ cũng là tưởng niệm. Thánh Phaolô đã nói: “Mỗi lần anh em ăn bánh này và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến” ( 1Côrinthô 11, 26 ). Khi nói thế, ngài không có ý nói ta chỉ tưởng niệm khi hiệp lễ, nhưng ngài bao gồm toàn bộ cái mà ngài gọi là “Bữa tiệc của Chúa”. Và bữa tiệc này không chỉ loan báo việc Chúa chịu chết, nhưng loan báo việc đó “cho tới khi Chúa lại đến”, nghĩa là loan báo tất cả những gì theo sau cái chết và sửa soạn cho việc Chúa lại đến: đó là việc sống lại và lên Trời.

Đó là ba biến cố lớn trong Mầu Nhiệm Phục Sinh mà các Kinh Nguyện Thánh Thể coi như nội dung của việc tưởng niệm. Có nhiều Phụng Vụ khác còn thêm việc chờ đợi Chúa đến, việc Chúa đến lần thứ nhất, việc Chúa lại đến... Các Kinh Nguyện Thánh Thể mới thì theo đúng truyền thống thích chừng mực của Rôma. Kinh Nguyện Thánh Thể II không nói đến việc lên Trời ( vì đã bao hàm trong việc sống lại ). Kinh Nguyện Thánh Thể IV sau khi nói đến việc Chúa chịu chết, còn nhắc tới việc “Người xuống ngục tổ tông”, và còn xác định: “Người lên trời ngự bên hữu Chúa”. Sau hết, hai Kinh Nguyện Thánh Thể thêm rằng chúng ta cử hành nghi lễ tưởng niệm “đang khi chờ đợi Người lại đến” ( Kinh Nguyện Thánh Thể III ), “đang khi chờ đợi Người đến trong vinh quang” ( Kinh Nguyện Thánh Thể IV ). Việc Chúa lại đến nằm trong cái nhìn của việc tưởng niệm, nhưng không phải là thành phần.

Đó cũng là điều dễ hiểu. Tưởng niệm thì chỉ nhớ đến những biến cố đã qua, hay nói cho đúng hơn, những việc đã hoàn thành. Bởi vì ta không chỉ làm sống lại những kỷ niệm xa xôi, đã chìm trong dĩ vãng. Ta làm một việc tưởng niệm cụ thể: trong Bí Tích Thánh Thể có Chúa Kitô đã chịu nạn, chịu chết, sống lại, và lên trời.

Vì là một hiến tế, nên Bí Tích Thánh Thể phải gợi đến cuộc sát tế, đến sự chết. Nhưng hiến tế chỉ trọn vẹn nếu đạt được mục đích, nghĩa là nếu Chúa chấp nhận. Việc sống lại chính là kết quả của hiến tế của Chúa Kitô, đã được Chúa Cha chấp nhận. Nhưng việc lên trời với việc sống lại cũng chỉ là một: chính khi sống lại thì Chúa Kitô vào trong đời sống mới, trong vinh quang của Cha Ngài. Ta tin rằng Chúa Kitô hiện diện thực sự trong Bí Tích Thánh Thể, và Ngài ở trong Bí Tích với tình trạng của Ngài hiện nay, là Đấng đã sống lại, đã được tôn vinh và đang ngự trên trời “bên hữu Chúa Cha”. Nhưng việc Ngài lên Trời cũng là bảo đảm Ngài sẽ trở lại: “Chính Đức Giêsu đây, Đấng vừa được đem lên, Ngài sẽ đến cùng một thể như các ông đã thấy Ngài về Trời” ( Công vụ 1, 11 ). Nhờ Bí Tích Thánh Thể, ta không chỉ tưởng niệm Chúa chịu chết và sống lại, nhưng có thể nói là ta nắm giữ được Ngài dưới hình thức bánh rượu. Còn việc Chúa lại đến thì ta không tưởng niệm, bởi vì là chuyện tương lai, nhưng vì ta có Chúa Phục Sinh và vinh hiển, nên ta có cái bảo đảm nâng đỡ niềm hy vọng của ta.

Để theo đúng thứ tự liên tiếp của các nghi lễ, đáng lẽ chúng tôi phải nói trước đến câu tung hô tưởng niệm do Giáo Dân hát ngay sau khi truyền phép. Nhưng những điều vừa trình bày trên đây cũng cần để giúp ta hiểu tầm quan trọng của các câu tung hô này. Câu này đáp ứng lệnh Chúa truyền phải làm lại, vừa mới được nhắc tới liền trước đó. Lệnh này quá rõ ràng, khiến ta phải tung hô ngay trước khi Linh Mục đọc kinh tưởng niệm, và thay vì nói với Chúa Cha như trong suốt Kinh Nguyện Thánh Thể do Linh Mục đọc, lời tung hô hướng thẳng về Chúa Giêsu, do lòng đạo đức bộc phát của dân chúng.

Ta có nhiều câu tung hô. Nhưng câu nào cũng chỉ xoay quanh lời Thánh Phaolô đã trích ở trên: “Mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến”. Các câu tung hô kia chỉ khai triển câu này đôi chút, bằng cách thêm câu nói về việc Chúa sống lại, xen vào giữa câu nhắc đến sự chết và câu nói về việc Chúa lại đến. Việc tung hô này mới được đem vào Phụng Vụ gần đây thôi, và được đặt ở tâm điểm của Kinh Nguyện Thánh Thể, biểu lộ cách tốt đẹp việc tham dự tích cực của Giáo Hữu vào việc cử hành Mầu Nhiệm Phục Sinh, và cũng là một cách biểu lộ chức tư tế họ đã lãnh nhận trong Bí Tích Rửa Tội.

Bây giờ ta có thể hiểu được ý nghĩa của câu “Đây là Mầu Nhiệm Đức Tin”, mà Linh Mục đọc lên để mời Giáo Hữu cùng tung hô. Đây không phải là gợi lên một trong những Mầu Nhiệm Đức Tin, cũng không phải là gợi đến mầu nhiệm Chúa hiện diện thực sự. Đây là nhìn nhận rằng, trong Bí Tích Thánh Thể, toàn thể Mầu Nhiệm Đức Tin được thực hiện, được nhắc lại đầy đủ, được trao ban cho ta hiệp thông: đó là tất cả chương trình cứu độ, tất cả kế hoạch của lòng Chúa thương yêu cứu độ thế giới, đang hiện diện trước mặt ta, và mời gọi ta tham gia vào.

Không phải chỉ toàn bộ Thánh Lễ là việc tưởng niệm chương trình cứu độ của Thiên Chúa; nhiều phần của Thánh Lễ cũng trình bày những khía cạnh của chương trình đó.

Ca nhập lễ, Thánh Vịnh đáp ca, ca hiệp lễ nhiều khi cũng gợi lên Mầu Nhiệm Phục Sinh, thì ít là theo khía cạnh riêng của mỗi ngày lễ. Lời tổng nguyện thường nhắc đến mầu nhiệm được cử hành, để lấy đó làm lý do tin tưởng vào lời cầu xin. Nhưng chính các bài đọc Sách Thánh mới có nhiệm vụ nhắc nhở nhiều hơn hết. Đó không phải là những bài học lịch sử quay về dĩ vãng, khơi gợi trí tò mò, hoặc làm sống lại những kỷ niệm xưa.

Theo Hiến Chế về Phụng Vụ, chúng tôi đã nói đi nói lại rằng: Chúa Kitô hiện diện ở đó, Ngài nói với ta, mời gọi ta bằng lời đã được linh hứng. Lời này nói với người tín hữu gắn bó vào Lời Chúa như vào một mầu nhiệm sống động. Sau nữa, Kinh Tin Kính cũng là một kinh nhắc lại tất cả Lịch Sử Cứu Độ: khi ta tin vào mọi điều đó, là ta thành những “người trong cuộc” của lịch sử luôn luôn đang tiến hành đó. Như vậy ta thấy rằng việc Phụng Vụ Lời Chúa không phải chỉ là phần bó buộc phải có trước nhưng không ăn nhằm gì với phần Phụng Vụ Thánh Thể. Trái lại Phụng Vụ Lời Chúa phát xuất trực tiếp từ chính bản chất của Thánh Lễ, vì Thánh Lễ là một cuộc tưởng niệm đích thực.

Việc tưởng niệm còn thấy có trong các Kinh Nguyện Thánh Thể, ở nhiều chỗ khác ngoài lời tung hô và kinh tưởng niệm. Bài Tiền Tụng là một lời tưởng niệm, mời gọi ta tạ ơn; ta đã thấy rằng tự bản chất, việc tạ ơn phải bao gồm tất cả. Tuy nhiên, trí nhớ của ta hẹp hòi, khả năng chú ý của ta hữu hạn, nên ta cần phải được nhắc lại, khi thì lý do này lúc thì lý do nọ, trong vô vàn lý do phải tạ ơn. Các bài Tiền Tụng trong Sách Lễ Rôma hiện nay, nếu xếp lại với nhau, sẽ làm thành một Kinh Tin Kính thực sự, có nhiều chi tiết và nhiều tính cách gợi cảm hơn là Kinh Tin Kính của các Tông Đồ, hoặc của Công Đồng Nicée – Constantinople.

Lễ quy Rôma cũng còn giữ vài yếu tố tưởng niệm. Như kinh thứ hai sau truyền phép: “Xin Chúa nhân từ và khoan hậu đoái nhìn...” nhắc lại hiến tế của Abel, Abraham, và Melkisêđê, là hình bóng trước của hiến tế Chúa Kitô. Sau nữa, các kinh “Hiệp cùng Hội Thánh” ( Communicantes ) riêng của Lễ Quy Rôma cũng có nhắc nhở một cách vắn tắt nhưng sâu xa đến các biến cố là nguồn gốc cho mấy lễ lớn như Giáng Sinh, Hiển Linh, Thứ Năm Tuần Thánh, Phục Sinh, Lên Trời, Hiện Xuống. Nhưng ngoài mấy yếu tố đáng kể đó, diễn tiến của Lễ Quy Rôma dường như ít nói chi tới chương trình cứu độ.

Chính ở điểm này mà các Kinh Nguyện Thánh Thể mới khác xa Lễ Quy Rôma, mà theo thiển ý còn vượt hẳn Lễ Quy đó. Các Kinh Nguyện Thánh Thể mới hoàn toàn diễn tiến trong đường lối của chương trình cứu độ. Khi nghe đọc các Kinh Nguyện Thánh Thể này, ta thực sự sống lại Lịch Sử Thánh, Đức Tin của ta được nuôi dưỡng và bồi bổ không gì sánh bằng.

Về phương diện này, Kinh Nguyện Thánh Thể IV phong phú nhất. Cũng vì thế mà đọc mãi mới tới lời tường thuật thiết lập Bí Tích Thánh Thể, không như mấy kinh kia: trước hết nhắc tới sự huy hoàng của chính Thiên Chúa, đã được các thiên thần ca ngợi, rồi việc sáng tạo, tội nguyên tổ, những Giao Ước đầu tiên, giáo huấn của các Ngôn Sứ, sau hết là việc Thiên Chúa cho Con Một đến. Về Mầu Nhiệm Nhập Thể, Kinh Nguyện Thánh Thể này cũng đầy đủ chi tiết như Kinh Tin Kính, cho nên tránh lặp đi lặp lại, chỉ nên dùng kinh này trong các lễ không đọc Kinh Tin Kính. Nhưng như thế cũng thiệt thòi cho Giáo Hữu, vì các Giáo Hữu dự lễ Chúa Nhật sẽ không được dịp thưởng thức một bức hoạ tuyệt đẹp về Lịch Sử Thánh !

Bây giờ ta phải trở lại chính kinh tưởng niệm để chú ý đến một điểm quan trọng giúp hiểu biết mầu nhiệm Thánh Lễ.

Trong kinh tưởng niệm, cái cốt yếu làm cột trụ cho tất cả là việc dâng tiến. Việc này được bao hàm trong việc truyền phép. Nhìn qua thì việc truyền phép chỉ như là lời tường thuật một việc đã xảy ra. Nhưng con mắt Đức Tin thì nhận ra đó là việc làm cho Mình và Máu Chúa Giêsu hiện diện trong hình bánh và rượu. Tuy nhiên còn có gì hơn thế nữa: việc truyền phép còn làm nên một hiến tế. Bởi vì hiến tế là một việc dâng tiến và sát tế.

Trong Bữa Tối sau hết cũng như trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã dâng chính mình Ngài ( xem Êphêsô 5, 2; Galát 2, 20; Do Thái 9, 14 ). Vì Ngài bảo ta phải làm điều Ngài đã làm, nên đến việc ta cũng phải dâng Ngài lên. Trong Bữa Tối và trên Thập giá, Ngài đã dâng chính mình Ngài, và chỉ một mình Ngài thôi. Nhưng từ khi loài người đã được cứu chuộc nhờ Thập Giá, từ khi các tín hữu nhờ Bí Tích Rửa Tội đã trở thành thân thể Ngài, thì trong Thánh Lễ, vẫn có Chúa Giêsu dâng chính mình Ngài cho Chúa Cha, nhưng còn cả Hội Thánh cùng dâng với Ngài. Hội Thánh không thể làm điều Chúa đã làm để tưởng niệm Ngài, mà không dâng chính Ngài.

Dâng tiến là một hành vi đích thực và hiện thời. Việc tưởng niệm đưa vào sự dâng tiến này, nên cũng thực sự là một việc nhắc nhở không có tính cách lý thuyết và hướng về dĩ vãng, nhưng có tính cách tích cực, hiện thời, và hữu hiệu. Tất cả chúng ta cùng nhau cử hành Thánh Lễ, khi chúng ta cùng với Hội Thánh, với chính Chúa Kitô, để dâng tiến Thiên Chúa hiến tế của Chúa Kitô mà tạ ơn và xin ơn tha tội, mà tưởng niệm Mầu Nhiệm Phục Sinh vẫn luôn sống động và tác động trong chúng ta.

36. XIN CHÚA THÁNH THẦN THÁNH HOÁ NHỮNG CỦA LỄ NÀY

Kinh Nguyện Thánh Thể có sức mạnh tác động để thực hiện cùng một lúc việc tạ ơn, việc truyền phép hiến tế, việc tưởng niệm, và dâng tiến của Chúa Kitô, nhưng dầu sao cũng vẫn là một lời cầu nguyện. Nghĩa là người đọc Kinh Nguyện Thánh Thể không tự coi mình như có quyền nắm giữ mấy câu “thần chú” để tuỳ ý sử dụng, nhưng họ chỉ là một tôi tớ, một tư tế, tuân lệnh Chúa Kitô cách khiêm tốn. Họ không chỉ tạ ơn Chúa Cha, vâng lời Chúa Kitô, và tưởng niệm Ngài bằng việc dâng hiến tế. Họ còn cầu khẩn Thiên Chúa, họ xin Chúa giúp họ, chúc phúc cho họ, chấp nhận hiến tế của họ.

Tiếng epiclesis là một danh từ Hy Lạp có nghĩa là “khẩn cầu”, là “nài xin”. Khi dùng, người Đông Phương đã gán cho chữ đó một ý nghĩa chuyên môn rõ rệt: đó là kinh cầu xin đọc sau lời tường thuật việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể, để xin Chúa Thánh Thần thánh hoá các lễ vật.

Lễ Quy Rôma cứ lặp đi lặp lại những lời nài xin Thiên Chúa chấp nhận, đoái đến, chúc phúc, thánh hoá lễ vật của chúng ta. Nhưng Lễ Quy Rôma không hề nói tới Chúa Thánh Thần trong tất cả các lời cầu xin đó, vì thế đó không phải là những “kinh nài xin” ( epiclesis ) theo đúng nghĩa chuyên môn. Trong Công Đồng Vatican II, các đại diện Giáo Hội Đông phương đã rất nhiều lần tỏ ý tiếc rằng, Thần Học và Phụng Vụ Latinh đã dành quá ít chỗ cho Chúa Thánh Thần.

Những Kinh Nguyện Thánh Thể mới đã sửa chữa sự thiếu sót này. Mỗi kinh mới đều có hai “kinh nài xin”, ở trước và sau lời nguyện truyền phép, trong đó có xin Thiên Chúa ban ơn Chúa Thánh Thần. Thực ra, cần lưu ý rằng kinh nài xin không phải là kinh dâng lên Chúa Thánh Thần. Đó là kinh cầu xin Chúa Cha ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài. Ngoài vài kinh trong lễ Hiện Xuống, Phụng Vụ không bao giờ thưa với Chúa Thánh Thần. Không có một lời nguyện nào dâng lên Chúa Thánh Thần. Không có lễ nào dành riêng cho Chúa Thánh Thần. Lễ Hiện Xuống không phải là lễ của Chúa Thánh Thần, nhưng là lễ của Chúa Kitô như tất cả những lễ khác trong Năm Phụng Vụ: vì vào ngày Hiện Xuống, Chúa Kitô thực hiện lời hứa của Ngài, biểu lộ vinh quang của Ngài, và lập Giáo Hội Ngài bằng cách ban Thánh Thần của Ngài.

“Kinh nài xin” thứ nhất xin Thiên Chúa truyền phép: “Xin Chúa dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hoá lễ vật này, để trở nên cho chúng tôi Mình và Máu Đức Giêsu Kitô...” ( Kinh Nguyện Thánh Thể II ). “Chúng tôi tha thiết nài xin Chúa nhờ cùng một Chúa Thánh Thần, đoái thương thánh hoá lễ vật chúng tôi dâng tiến Chúa đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô...” ( Kinh Nguyện Thánh Thể III ). “Xin Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hoá những của lễ này, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô...” ( Kinh Nguyện Thánh Thể IV ). Hai kinh sau vừa dẫn chỉ xin Thiên Chúa truyền phép. Kinh thứ nhất, giống như Lễ Quy Rôma, xin “để trở nên cho chúng tôi”.

Bốn kinh nài xin này, nếu kể cả kinh “Lạy Chúa, xin ban phúc” ( Quam oblationem ) của Lễ Quy Rôma, đều được Linh Mục vừa đọc vừa đặt tay trên lễ vật, đây là cử chỉ cổ truyền để ban ơn Chúa Thánh Thần trong tất cả các Bí Tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Sám Hối, Truyền Chức ( xem Công Vụ 6, 6; 13, 3 ). Trong cả bốn Kinh Nguyện Thánh Thể, kinh nài xin này cùng với việc đặt tay đều đi trước lời tường thuật Thiết lập Bí Tích. Như vậy, rõ ràng là lời tường thuật này không phải chỉ là thuật lại và nhắc lại cho trí nhớ mà thôi, nhưng là một việc truyền phép có hiệu lực.

Vậy tại sao lại đặc biệt xin ơn Chúa Thánh Thần ? Thưa bởi vì việc truyền phép là một sự nối dài, và là một hậu quả của việc Nhập Thể đã được thực hiện bởi phép Chúa Thánh Thần ( xem Mt 1, 20; Lc 1, 35 ). Vả lại truyền phép tức là thánh hoá. Trong từ ngữ Kinh Thánh, hai tiếng này đồng nghĩa. Truyền phép hay thánh hoá là việc riêng của một Ngôi Vị trong Thiên Chúa Ba Ngôi, mang danh hiện là Thánh. Dĩ nhiên cả Ba Ngôi đều là Thánh, nhưng nhiệm vụ riêng của Ngôi thứ Ba, được gọi là Hồng Ân hoặc Tình Yêu, là thông truyền sự thánh thiện. Trong các Kinh Nguyện Thánh Thể II và III, ý tưởng thánh hoá được nối liền một cách tự nhiên với bài: Thánh ! Thánh ! Thánh !

Sau hết, công việc riêng biệt của Chúa Thánh Thần là hoàn tất công việc của Chúa Cha và Chúa Con. Kinh Nguyện Thánh Thể IV nói rõ điều đó để dẫn vào kinh nài xin: “Để chúng tôi không sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì chúng tôi” ( đây là một định nghĩa rất hay về sự thánh thiện ) “thì từ nơi Cha, Người ( Đức Kitô ) đã sai Đức Chúa Thánh Thần như ơn đầu mùa đến với các tín hữu, để Chúa Thánh Thần kiện toàn công trình của Người nơi trần gian, và hoàn tất chương trình thánh hoá loài người”. Vì thế trong Kinh Tin Kính, sau khi nhắc lại việc sáng tạo là việc của Chúa Cha, việc cứu chuộc là việc của Chúa Con, thì nói đến việc Chúa Thánh Thần làm là Giáo Hội và việc các Thánh thông công ( communio sanctorum cũng có thể dịch là việc thông công các sự thánh ( sancta ), trong đó có gồm các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể ).

Kinh nài xin thứ hai ở sau lời truyền phép, để xin cho việc đó được có hiệu quả. Ta xin không phải vì còn nghi ngờ hiệu lực của các lời truyền phép, nhưng không nên coi các lời này như là một khối độc lập, còn các phần khác trong Kinh Nguyện Thánh Thể chỉ là cái khung, là trang trí phụ thuộc. Không nên chia cắt Kinh Nguyện Thánh Thể ra từng mảnh. Tại sao làm cho Chúa Kitô hiện diện ? Không phải chỉ là để tạ ơn chắc chắn có Ngài hiện diện, vì Ngài có thể hiện diện bằng rất nhiều cách khác, nhưng là để cho sự hiện diện của Ngài trong hình bánh rượu mà ta có thể ăn uống, trở nên một phương thế cho chúng ta hiệp nhất với Ngài trong hiến tế của Ngài, và với anh em chúng ta.

Đây là công việc riêng biệt của Chúa Thánh Thần, Ngài là sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con, là Thánh Thần của ân huệ, của hiệp thông và của tình yêu, là linh hồn làm duy nhất và ban sinh lực cho Hội Thánh. “Xin Chúa cho chúng tôi, khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được hợp nhất cùng nhau nhờ Chúa Thánh Thần.” ( Kinh Nguyện Thánh Thể II ). “Xin cho chúng tôi, được bổ dưỡng bởi Mình và Máu Con Chúa, cũng được tràn đầy Chúa Thánh Thần, hầu trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô” ( Kinh Nguyện Thánh Thể III ). “Xin Chúa nhân từ ban cho những người thông phần cùng một bánh và chén này, nhờ Chúa Thánh Thần đoàn tụ tất cả thành một thân thể” ( Kinh Nguyện Thánh Thể IV ).

Tất cả những kinh nài xin này, kể cả kinh “Xin Chúa sai sứ thần dâng lễ vật” ( Supplices ) của lễ quy Rôma, đều ở đúng một chỗ như nhau, nghĩa là ngay sau khi tưởng niệm. Kinh nài xin là kinh xin một điều thánh thiện hơn cả, xin mục đích sau cùng của Bí Tích Thánh Thể, xa hơn sự hiện diện của Chúa Kitô và các mầu nhiệm của Ngài, xa hơn hiến tế của Ngài: xin chính cái hiệu quả của hiến tế, đó là sự hiệp nhất sâu xa của thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô.

Hai trong số ba Kinh Nguyện Thánh Thể mới còn trình bày hiệu quả của Bí Tích Thánh Thể một cách cao siêu hơn, đòi hỏi hơn, bí nhiệm hơn. Trong Kinh Nguyện Thánh Thể III, câu đầu của lời nguyện tiếp sau kinh nài xin là: “Xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng tôi trở nên lễ vật vĩnh cửu...” Trong Kinh Nguyện Thánh Thể IV, phần cuối của kinh nài xin nói: “Xin Chúa nhân từ ban cho những người thông phần cùng một bánh và chén này, nhờ Chúa Thánh Thần đoàn tụ tất cả thành một thân thể, trở nên của lễ sống động trong Đức Kitô, để ca tụng vinh quang Chúa”.

Lời kinh rất đẹp này đã có từ lâu trong Sách Lễ Rôma, trong lời nguyện trên lễ vật của ngày thứ hai sau lễ Hiện Xuống, và lễ Chúa Ba Ngôi cũng lấy lại kinh này. Đó chính là hiệu quả sau cùng của tất cả Thánh Lễ. Hiện chế về Phụng Vụ đã nhắc đến điểm Giáo Lý này khi khuyên các tín hữu dự lễ: “Khi dâng của lễ tinh tuyền không những nhờ tay Linh Mục mà còn cùng dâng với ngài, các tín hữu học biết dâng chính mình cho Thiên Chúa, và mỗi ngày, nhờ sự trung gian của Chúa Kitô, họ càng được hiệp nhất hoàn toàn hơn với Thiên Chúa và với nhau, để sau cùng Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi người” ( số 48 ).

Đó là hiệu quả sau cùng của việc tham dự Phụng Vụ. Nhưng hiệu quả này đi xa hơn Phụng Vụ. Đó là điều mà Hiến Chế về Phụng Vụ nhắc tới trong đoạn nói rõ về những giới hạn của Phụng Vụ, là “Phụng Vụ không chiếm tất cả mọi hoạt động của Hội Thánh” ( số 9 ). Vì Hội Thánh còn phải truyền bá Phúc Âm nhằm đưa người ta đến Bí Tích Rửa Tội, nhờ đó họ có thể tham dự Phụng Vụ. Hơn nữa, chính Phụng Vụ đòi hỏi mỗi người, ngoài việc cử hành chính thức và cộng đồng, còn phải nên thánh thiện nữa:

“Đời sống thiêng liêng không phải chỉ bao gồm trong việc tham dự Phụng Vụ mà thôi”. Người Kitô hữu được mời gọi cầu nguyện chung; dầu vậy họ còn phải vào phòng để cầu nguyện Chúa Cha trong nơi kín đáo ( Mátthêu 6, 6 ), Thánh Phaolô còn dạy phải cầu nguyện không ngừng ( 1Thessalonica 5, 17 ). Thánh Tông đồ cũng dạy chúng ta phải luôn luôn mang trong thân xác cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, để sự sống của Chúa Giêsu cũng được hiện rõ nơi thân mình chúng ta ( 2Côrinthô 4, 11 ). Vì thế trong Thánh Lễ, chúng ta xin Thiên Chúa “sau khi đoái nhận việc dâng tiến lễ vật thiêng liêng” Chúa cũng làm cho chúng ta “trở nên lễ vật vĩnh cửu dâng lên Chúa”.

Chỗ khác, Thánh Phaolô cũng nói: “Tôi khuyên anh em hãy hiến dâng thân mình làm hiến tế sống động, thánh thiện, đẹp lòng Chúa: đó là sự thờ phượng thiêng liêng anh em phải thi hành” ( Rôma 12, 1 ). Việc Phụng Vụ cốt tại hiến dâng Chúa Kitô. Việc thờ phượng thiêng liêng, được biểu lộ và bắt nguồn trong Phụng Vụ, cốt tại việc dâng chính mình với Chúa. Đó là việc thờ phượng “thiêng liêng”, bởi vì được kích động bởi Thánh Thần mà chúng ta đã xin can thiệp trong kinh nài xin.

37. CẦU XIN CHO HỘI THÁNH VÀ CHO MỌI NGƯỜI

Kinh nài xin kết thúc bằng việc hiến tới vinh quang trên Trời, vì chúng ta xin được biến đổi thành “lễ vật vĩnh cửu để ca tụng vinh quang Chúa”, điều này chỉ thực hiện được ở trên trời. Như vậy phần cuối của Kinh Nguyện Thánh Thể lại tiếp nối với đề tài lúc đầu mà bài Tiền Tụng đã quả quyết, đó là việc tạ ơn của chúng ta liên kết chúng ta với các thiên thần và “tất cả các Thánh” ( Kinh Nguyện Thánh Thể II ), để chúng ta đồng thanh hát rằng: Thánh ! Thánh ! Thánh !

Vậy các Thánh cũng có một vị trí trong Kinh Nguyện Thánh Thể, các ngài được nhắc đến ở chỗ đôi khi gọi là “kinh xin chuyển cầu” là kinh ta dâng lên Chúa một số thỉnh nguyện. Về những lời chuyển cầu này ta gặp hai khó khăn.

Khó khăn thứ nhất. Kinh Nguyện Thánh Thể thì nhất thiết phải hướng về Thiên Chúa. Thế mà khi ta cầu xin xem ra có như ta hướng về cái gì khác; như vậy có phải là trái ngược không ?

Xin trả lời: nếu cho rằng việc tạ ơn không được dính dáng với việc xin ơn, thì đó là có một quan niệm quá cứng nhắc về sự cầu nguyện. Trong bất cứ kinh nguyện sống động nào, hai việc trên phải hoà trộn với nhau. Việc tạ ơn sửa soạn và dẫn đến việc xin hơn, vì ta cho Chúa thấy rằng ta không phải là những kẻ vô ơn. Còn việc xin ơn chứng tỏ niềm tin tưởng mà việc tạ ơn đã tạo ra trong ta. Tập thánh vịnh là trường dạy cầu nguyện cũng làm đúng như vậy. Tất cả các Thánh Vịnh Tạ Ơn đều gồm có một phần quan trọng để xin ơn ( xem các Thánh Vịnh 21; 30; 34; 39; 114 – 115 ).

Đàng khác, việc xin ơn đó không có tính cách vụ lợi và ích kỷ: ta cầu nguyện nhiều cho nhau, nhất là cho Hội Thánh, đó chính là cùng đích của Bí Tích Thánh Thể ( Bí Tích Hiệp Nhất ).

Khó khăn thứ hai. Trong Kinh Nguyện Thánh Thể, Chúa Kitô là tư tế và là trung gian. Thế mà ta lại còn chạy đến xin các thánh chỉ là thụ tạo để chuyển cầu cho mình nữa, thì có thích hợp chăng ? Có một khó khăn khác cũng có liên hệ với khó khăn này, đó là việc cử hành lễ kính các Thánh, hoặc là theo lịch Phụng Vụ, hoặc là do Giáo Hữu xin Linh Mục làm để kính Thánh này Thánh kia.

Để trả lời cho vấn nạn sau, Đức Cha Bossuet đã nói mạnh như sau: “Chỉ có những ai quá quê mùa hay quá mù tịt về các sự trên Trời mới không thể thấy rằng tôn vinh các Thánh chính là tôn vinh Thiên Chúa hơn là tôn vinh các ngài”, Ngài còn dẫn nhiều bằng chứng lấy trong các Phụng Vụ Đông và Tây Phương, và sau cùng kết luận: “Anh em đã hiểu việc dâng lễ kính các Thánh là gì rồi: đó là mừng kính sự cao cả và uy quyền của Thiên Chúa trong những ơn Ngài đã ban cho các Thánh”.

Còn về việc xin các Thánh chuyển cầu cho ta, nếu xét xho kỹ, ta thấy rằng Phụng Vụ nhắc đến việc đó rất kín đáo và tế nhị. Trong Lễ Quy Rôma, các Thánh chiếm một chỗ đáng kể, nhưng việc chuyển cầu của các ngài chỉ thấy ở một kinh thôi: kinh “Hiệp cùng Hội Thánh” ( Communicantes ).

Trong các Kinh Nguyện Thánh Thể mới, việc chuyển cầu của các Thánh chỉ thấy ở Kinh Nguyện Thánh Thể III: “Nguyện xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng tôi trở nên lễ vật vĩnh cửu, để chúng tôi được lãnh nhận gia nghiệp cùng với các người Chúa đã chọn, nhất là với Đức Trinh nữ Maria rất Thánh... và toàn thể các Thánh, vì chúng tôi tin tưởng các Đấng luôn luôn cầu bầu cùng Chúa cho chúng tôi”. Trong tất cả các kinh có nói đến các Thánh, thì điều mà chúng tôi xin trước hết là được hiệp với các Ngài để hưởng hạnh phục vĩnh cửu. Nhưng dầu có nhắc đến việc chuyển cầu của các Ngài, như trong hai kinh vừa kể trên, việc đó cũng chỉ được kể như là phụ thuộc.

Vả lại, kêu cầu các Thánh trong khi cử hành Thánh Thể cũng là việc tự nhiên. Các Thánh không phải xa lạ gì đối với Thánh Thể, vì Thánh Thể ban cho ta “của bảo đảm cho vinh quang đời sau” mà chính các ngài thì đã chiếm hữu được rồi. Mục đích của Bí Tích Thánh Thể chẳng phải là để toàn thể Hội Thánh dưới đất được về Trời cả sao ?

Xét về những lời cầu xin thì các Kinh Nguyện Thánh Thể mới cũng khác nhiều với Lễ Quy Rôma. Trong lễ quy này, các lời cầu xin được chia ra trước và sau khi truyền phép. Chúng ta thấy cả trước lẫn sau đều có hai bản liệt kê tên các Thánh ( nay Linh Mục được rút ngắn hơn ). Đây là cách sắp đặt riêng của Lễ Quy Rôma, hình như không dựa vào lý do Giáo Lý, mà có lẽ chỉ vì muốn cho cân đối. Cách sắp đặt đó phù hợp với tính cách của Lễ Qui, thích sự song đối và lặp đi lặp lại.

Trong các Kinh Nguyện Thánh Thể mới thì không có chuyện đó, vì đã được soạn theo bước diễn tiến của kế hoạch cứu độ. Cũng như trong Kinh Tin Kính, Hội Thánh và các Bí Tích được nói tới trong phần về Chúa Thánh Thần; trong các Kinh Nguyện Thánh Thể mới cũng vậy, các lời cầu nguyện cho Hội Thánh được đặt ở sau cùng, nghĩa là sau khi nói tới việc Sáng Tạo, Nhập Thể, Cứu Chuộc, Thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Đó là một thứ tự rất tự nhiên và cần thiết. Đồng thời, thứ tự này như đóng khung cho Kinh Nguyện Thánh Thể, như chúng tôi đã nói trên đây: ở đầu Kinh Nguyện Thánh Thể, trong bài Tiền Tụng, ta đã nhắc tới các thần thánh trên Trời cùng tham gia vào bài ca tạ ơn của ta; ở cuối Kinh Nguyện Thánh Thể ta lại nhắc tới các Thánh và ta mong ước được chung hưởng vinh quang với các ngài, vinh quang mà câu “Chính nhờ Người, với Người, và trong Người...” sắp ca tụng.
Có một số người than phiền vì những lời cầu xin trong Lễ Quy Rôma chỉ chú trọng đến Giáo Hội, chỉ nghĩ đến cho những thành phần thực thụ của Giáo Hội. Thực sự không đúng vậy, vì Bí Tích Thánh Thể làm cho hiến tế thập giá hiện diện, hiến tế mà Chúa Giêsu đã dâng cho hết mọi người. Đàng khác, Giáo Hội không phải là một xã hội khép kín. Trong ý hướng, Giáo Hội bao gồm toàn thể nhân loại, vì “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, muốn cho mọi người được cứu thoát” ( 1Timôthê 2, 4 ).

Khi chúng ta xin Thiên Chúa đoàn tụ Hội Thánh lại thành một, không phải là chỉ xin cho Hội Thánh được duy nhất, mà còn xin cho Hội Thánh duy nhất ấy lớn mạnh hơn, nghĩa là cho toàn thể nhân loại hiệp nhất với Hội Thánh.

Các Kinh Nguyện Thánh Thể mới nói rõ ràng hơn về phương diện truyền giáo này, về mối quan tâm đến những người còn ở xa Giáo Hội. Chẳng hạn: “Xin Chúa cũng nhớ đến ông bà cha mẹ anh chị em chúng tôi đang an nghỉ trong niềm hi vọng sống lại, và mọi người đã qua đời trong tình thương của Chúa” ( Kinh Nguyện Thánh Thể II ). “Xin thương đoàn tụ mọi con cái Cha đang tản mác khắp nơi” ( Kinh Nguyện Thánh Thể III ). “Xin nhớ đến mọi người mà chúng tôi cầu nguyện cho khi dâng của lễ này..., toàn thể Dân Chúa và mọi người đang thành tâm tìm Chúa. Xin Chúa cũng nhớ đến những người đã chết trong bình an của Đức Kitô, và tất cả mọi người quá cố mà chỉ một mình Chúa biết lòng tin của họ” ( Kinh Nguyện Thánh Thể IV ).

Hồng Y JEAN VILLOT ( Còn tiếp nhiều kỳ )

 
     
 
 
 
Bản in Phản hồi Gửi bạn bè Về trang trước  
 
     
 
  Số lượt người đọc bài này: 2031   [ Giới thiệu cho bạn bè | Trang trước |  Đầu trang ]
 
Trung Tâm Mục Vụ Dòng Chúa Cứu Thế - 38 Kỳ Đồng, P.9, Q.3, Sài gòn - ĐT: 9.316.322 (255) - 9.319.835 - Email: ttmvcssr@hcm.vnn.vn