XÃ HỘI CẦN PHẢN BIỆN, CÒN GIÁO HỘI ?
Trong những ngày gần đây trên các trang báo mạng, người ta thảo luận một cách sôi nổi về vai trò của trí thức trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại. Giáo sư Ngô Bảo Châu người vừa lãnh giải thưởng toán học Fields danh giá phát biểu: “Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra không liên quan gì đến phản biện xã hội”.
Có nhiều người không đồng tình với nhận định trên và một trong số đó là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, ông đưa ra nhận xét: “Giáo sư Ngô Bảo Châu cũng đã nói đến cái phần sau là nếu không có phản biện thì xã hội sẽ chết lâm sàng. Nhưng trách nhiệm của cái chết lâm sàng ấy không đặt vào vai của trí thức thì đặt vào ai ?” ( Nguồn LTCG – 4.2.2012 ).
Cái chết lâm sàng chính là để ám chỉ cho đảng Cộng Sản Việt Nam và chính ông nguyên Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu cũng nói tương tự: “Đảng tồn tại trong suy thoái”. Nếu Đảng tồn tại trong suy thoái mà Đảng lại là đảng cầm quyền ( toàn trị ) thì điều ấy cũng có nghĩa đất nước này đang rơi vào suy thoái. Suy thoái tức là lùi và cái lùi này chẳng biết nó sẽ dẫn tới chỗ tận cùng nào ?
Trước vận mệnh nguy biến của quốc gia dân tộc thì vai trò người trí thức là hết sức quan trọng. Thật vậy, lịch sử cho thấy hàng ngũ trí thức không bao giờ thiếu trong những khi đất nước lâm nguy. Một Nguyễn Phi Khanh, một Nguyễn Trãi trước dã tâm xâm lược của giặc Minh. Một Nguyễn Trường Tộ, một Phan Thanh Giản trước thực dân Pháp đô hộ và hiện nay có lẽ cũng không thiếu, chẳng hạn về phía Công Giáo có Lm. Tadeo Nguyễn Văn Lý, Phật Giáo có Hòa Thượng Thích Quảng Độ v.v… Còn trong lãnh vực đời có Gs. Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, cựu dân biểu Gs. Nguyễn Minh Thuyết, tướng về hưu Nguyễn Trọng Vĩnh v.v…
Trí thức trong ý nghĩa cao quý nhất đó chính là hiền tài, là nguyên khí quốc gia. Đất nước ta là nước văn hiến, chắc chắn không đời nào thiếu vắng trí thức. Mặc dầu vậy, trong hoàn cảnh đáng thất vọng hiện nay, lại thấy có những tiếng nói khá gọi là bi quan. Trên diễn đàn BBC ngày mồng một Tết vừa rồi nhà văn Võ Thị Hảo lập luận lịch sử Việt Nam là lịch sử của những người nô lệ. Ngày nay đại đa số người làm việc bằng trí óc chỉ vì miếng ăn ngon, họ vẫn là những người nô lệ. Còn nhà báo Lê Phú Khải diễn tả trí thức Việt Nam ra vẻ hình hài hơn: “Theo tôi thì ở Việt Nam trừ một số ít trí thức có tư duy độc lập, còn thì không có đội ngũ trí thức đúng với tên gọi, đúng với nội hàm của nó. Cái gọi là tầng lớp trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa là những người do Đảng đào tạo nên để làm công chức cho Đảng. Vì thế Đảng nói gì họ nghe đấy, Đảng bảo sao họ làm vậy, vậy thôi” ( Nguồn đã dẫn ).
Một khi Đảng đào tạo thì Đảng cũng chỉ muốn sử dụng họ, ngoài ra có trí thức… thực nào muốn phản biện, nếu không bị… giập ngay thì cũng chẳng có chỗ nào để mà lên tiếng, có nghĩa nó chẳng có tác dụng gì đối với quảng đại quần chúng. Còn như trường hợp của Gs. Ngô bảo Châu, người ta có thể… yên tâm với công việc lao động trí óc của mình, chẳng cần chi mà phải phản biện này nọ cho nó rắc rối cuộc đời.
Thế nhưng suy cho cùng thì phản biện xã hội dù cho có thúc đẩy được nhận thức dân chủ trong nhiều tầng lớp dân chúng thành một cao trào đi nữa thì liệu chừng có thay đổi được chế độ này không và thay đổi theo hướng nào ? Để giống như Mỹ chăng, vậy chẳng phải là Mỹ cũng như nhiều nước Tư Bản khác hiện cũng đang ở trong cái thế người dân phải đứng lên đòi quyền sống, quyền làm người bằng các hành động bạo lực như chiếm phố Wall, chiếm đồi Capitol đó sao ?
Nhận ra như vậy không phải để phủ nhận vai trò cần thiết của trí thức nhưng vấn đề quan trọng đặt ra ở đây, đó là chính quan niệm về trí thức. Nếu hiểu trí thức bao gồm những người có học hàm học vị cao như giáo sư, tiến sĩ các loại thì đời sống của họ có khi còn xấu xa hơn cả hạng thất học. “Một người như Jean Jacques Rousseau, trình bày những lý thuyết rất hay về giáo dục nhưng chính ông lại nhẫn tâm đem con bỏ vào Cô Nhi Viện. Một tư tưởng gia như Schopenhauer truyền bá phép tu luyện mà chính mình không bao giờ tu luyện theo đó. Một triết gia đại tài như Bacon về học thuyết thì có thể gọi là cao siêu nhưng đời sống của ông là đời của một con người đê tiện” ( Thu Giang N. Duy Cần – Nhập Môn Triết Học Đông Phương ).
Trí thức trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần phản biện xã hội nhưng phản biện nào thì tất yếu cũng đưa đến phản kháng. Lịch sử nhân loại có thể nói là lịch sử của những cuộc phản kháng nối tiếp và thực tế cho thấy tất cả chỉ là cái vòng luẩn quẩn. Do phản kháng mà hình thành các chế độ, để rồi chính chế độ đó lại do bị phản kháng mà sụp đổ. Cái vòng luẩn quẩn đó cứ bất tận nối tiếp không bao giờ con người có thể thoát ra khỏi.
Hễ là trí thức thực sự thì luôn gắn bó với phản biện xã hội, bởi lẽ họ đã nhận thức đâu là con đường đúng cần phải bước tới cho dân tộc đất nước mình trong thời điểm đó. Tuy nhiên dẫu thế nào thì con đường bước tới đó cũng vẫn chỉ quanh quẩn trên đường đời, nếu không muốn nói đó chỉ là cái ước muốn cải đổi ( cách mạng ) cuộc sống theo ý hệ của phe nhóm của đảng mình. Ước vọng một khi thành tựu thì đương nhiên những trí thức đó lại trở thành nhà cầm quyền để rồi ngày càng bị cuốn hút trong vòng xoáy của quyền lực. Những Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp với ước vọng độc lập dân tộc chẳng phải trước đó cũng đã là những trí thức hay sao ?
Trí thức sẽ hết là trí thức một khi đã bám vào bất kỳ một thứ ý hệ nào dù là chính trị hay tôn giáo. Chính cái ý hệ đó sẽ là gông cùm trói buộc con người và nó sẽ không bao giờ… nhả ra nếu không có người đến phá bỏ nó. Bị nhốt giữ trong gông cùm xiềng xích vật chất còn có ngày ra chứ gông cùm ý hệ thì vô phương.
Thế nhưng trong hai thứ ý hệ chính trị và tôn giáo thì ý hệ chính trị lại ít nguy hiểm hơn tôn giáo, lý do bởi tôn giáo là một thế lực dựa trên… niềm tin. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận vô số kể những tai họa do niềm tin tôn giáo mù quáng gây ra và hiện nay Hồi Giáo là một dẫn chứng còn nóng hôi hổi ! Đối với tôn giáo này thì trí thức hoàn toàn bó tay không thể phản biện.
Trái lại với Đạo Công Giáo thời Trung Cổ thì có khác, bởi vì trí thức vẫn được dành cho nhiều cơ hội mặc dầu đã phải trả giá đắt bằng chính mạng sống mình: Một John Huss ( 1372 – 1415 ) Một Giordana Bruno ( 1578 – 1600 ) bị thiêu trên giàn hỏa. Một Galileo ( 1564 – 1642 ) bị giam trong ngục tối cho đến chết. Người ta có thể nhân danh niềm tin tôn giáo để giết hại kẻ khác, đó là một vết nhơ trong quá khứ của Giáo Hội. Thế nhưng với việc can đảm nhận ra những lỗi lầm đáng tiếc đó khiến chúng ta càng tin tưởng hơn vào tính chất Thánh Thiện, Duy Nhất, Tông Truyền, và Công Giáo của Giáo Hội.
Nhận ra tội lỗi đã trót phạm cùng với việc ăn năn sám hối dốc lòng chừa, đó là cái ưu điểm của Đạo Thánh Chúa cho toàn Giáo Hội cũng như cho từng mỗi tín hữu. Thế nhưng về những phản biện của những trí thức thời Trung Cổ như vừa kể, không phải vì thế mà họ được coi là vô tội, bởi xét trong tính chất Tông Truyền, Giáo Hội đã được trao cho quyền xét xử ấy. Chúa nói với Phêrô: “Này Simon, con Giôna, anh thật có phúc vì không phải phàm nhân tỏ cho anh biết điều ấy nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên Trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết, anh là Phêrô, nghĩa là Đá, trên đá tảng này Thầy sẽ xây Hội Thánh Thầy và quyền lực âm phủ cũng không thể thắng nổi. Thầy sẽ trao chìa khóa Nước Trời, dưới đất anh cầm buộc điều gì trên Trời cũng sẽ cầm buộc. Dưới đất anh cởi mở điều gì trên Trời cũng cởi mở như vậy” ( Mt 16, 17 – 19 ).
Ở đây ta thấy có điểm quan trọng cần lư u ý đó là Chúa chỉ xây dựng Hội Thánh trên một con người và trao cho người đó quyền tối thượng là đóng hay mở cửa Nước Trời. Lý do Thánh Phêrô được lập làm đầu và trao quyền là bởi ngài đã được Thiên Chúa mạc khải cho biết Chúa Giêsu chính là Đấng Messia Cứu Độ. Đúng là mạc khải Thánh Phêrô nhận được là chân thật, nhưng đó chỉ là một ánh chớp thoáng qua, bởi ngay sau đó ngài đã bị Đức Kitô quở trách cách nặng nề: “Ớ Satan, hãy lui ra đằng sau Ta. Ngươi làm cớ vấp phạm cho Ta, vì tâm ý ngươi chẳng chăm về việc Thiên Chúa song chăm về việc loài người” ( Mt 16, 23 ).
Việc Thiên Chúa mà Đức Kitô nói đó là con đường xuất thế gian. Phêrô ngăn cản Chúa lên Giêrusalem chịu chết đó là vì chưa nhận ra con đường sát thân thành Đạo của Ngài. “Nếu hạt lúa mì chẳng rơi xuống đất, chết và thối đi thì nó chỉ trơ trọi một mình” ( Ga 12, 24 ). Về sự không hiểu và vấp phạm của Phêrô khi đó cũng đã diễn ra cho Giáo Hội cũng như những bè rối lạc đạo sau này. Thật vậy, cho đến nay, Giáo Hội có tất cả là 21 Công Đồng thì đã có tới 20 Công Đồng được triệu tập là để chống lạc giáo. Duy chỉ có Công Đồng Vatican 2 là không, nhưng chính Công Đồng này đã đẩy Giáo Hội vào cơn khủng hoảng chưa từng có, đó là tục hóa tôn giáo.
Lạc giáo tức có nghĩa là đã xa lìa khỏi Giáo Hội Tông Truyền do Đức Kitô thiết lập. Mục đích triệu tập Công Đồng là để Giáo Hội lắng nghe sự trình bày của các đương sự để cùng nhau biện luận hầu đạt đến chân lý. Sự trình bày các quan điểm như thế, ngày nay chúng ta gọi đó là phản biện và sự phản biện tại các Công Đồng trong quá khứ ấy hầu hết đều mang tính đối kháng để rồi đưa đến phân ly là điều không thể tránh.
I. Phản biện như tiếng nói đối kháng
Như đã biết Giáo Hội có tất cả 21 Công Đồng thì duy chỉ có Công Đồng Vatican 2 chẳng những không chống lạc giáo lại còn kêu gọi hiệp nhất và sự hiệp nhất ấy chủ yếu nhắm vào Tin Lành giáo bằng cách giải vạ cho Luther, tuyên dương ông là nhà cải cách. Đang khi đó Công Đồng Trento ( 1545 – 1563 ) trải dài suốt gần hai mươi năm đã giải quyết rất nhiều vấn đề quan trọng nhằm bác bỏ những luận điểm sai lạc của Tin Lành về ơn Công Chính Hóa, về Huấn Quyền giải nghĩa Thánh Kinh, về các Bí Tích nhất là Bí Tích Thánh Thể, v.v… Mặt khác, cũng tại Công Đồng này, Thần Học Kinh Viện được phục hồi, bộ Tổng Yếu Thần Học của Thánh Thomas được đề cao và đặt trên bàn thờ bên cạnh cuốn Thánh Kinh” ( Lm. Bùi Đức Sinh – Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo ).
Chủ ý của Công Đồng khi phục hồi Kinh Viện Học ( Scholastique ) cùng với việc đặt bộ Tổng Luận Thần Học ( Summa Théologica ) trên bàn thờ ngang với Kinh Thánh là để một lần nữa tái xác nhận việc Giáo Hội trước đó đã kết án Luther là hoàn toàn đúng. Việc Luther ly khai có nhiều nguyên nhân mang tính chính trị thời cuộc nhưng sâu xa nhất vẫn là vì ông ta căm ghét Thần Học Kinh Viện. Người sáng lập Tin Lành sau khi biết các sách của mình bị đốt tại Cologne do Khâm Sai Tòa Thánh Alexandro và Von Eck thì lập tức ông đã tập họp bạn hữu tại cổng thành Wittenberg để đốt bản Tông Chiếu, cuốn Giáo Luật và bộ Tổng Yếu Thần Học: “Vì bay mà Lời của Chúa bị xuyên tạc, ta hỏa thiêu bay” ( Lm. Bùi Đức Sinh, Sđd ).
Luther đốt bộ Tổng Luận Thần Học với thái độ giận dữ vì ông cho rằng chính nó là nguyên nhân khiến Lời của Chúa bị xuyên tạc. Thật sự đó chỉ là cái cớ để Luther lên án cách giải nghĩa Thánh Kinh mà ông cho là… man rợ của những người theo học phái Thomisme thời đó. Nói là giải nghĩa Kinh Thánh nhưng chủ yếu chỉ là để ra sức chứng minh theo duy lý cho sự hiện hữu của đấng Thần Linh Tạo Hóa. Chứng minh Thiên Chúa hiện hữu, hay nói cách khác làm sao để trả lời cho câu hỏi có hay không có Thiên Chúa, vẫn là nội dung của Thần Học Duy Lý từ bấy lâu nay.
Có Đấng Tạo Hóa, điều ấy dường như là hiển nhiên nhưng mặt khác, khi cần đối sánh với Đức Kitô thì đó lại là một vấn đề vô cùng nan giải và đây cũng chính là đề tài gây tranh cãi bất tận giữa Giáo Hội với các giáo phái. Giữa Đấng Tạo Hóa Thần Linh và Đức Kitô có mối liên hệ như thế nào, Ngài là Con Đấng Tạo Hóa hay chính là Tạo Hóa ? Bè rối Ario cho rằng Chúa Cha là đấng tuyệt đối siêu việt so với Chúa Con. Chúa Con thấp hơn Chúa Cha về bản tính, uy quyền và vinh quang… Còn Giáo Hội lại nói Ngôi Cha và Ngôi Con bằng nhau không ngôi nào hơn ngôi nào.
Giáo Hội đương thời luôn dựa vào Huấn Quyền cùng với những lập luận mang tính duy lý để giập tắt những cuộc tranh luận ( phản biện ) của các giáo phái, bởi đó cho nên ly khai là điều không thể tránh. Ví dụ điển hình cho thấy tranh luận đưa đến đổ vỡ là giữa Maier Von Eck phó viện trưởng đại học Ingolstadt và Luther năm 1519 tại lâu đài Pleissenburg ( Leipzig )”. Von Eck là một nhà hộ giáo thời danh, trí khôn sắc sảo, lý luận đanh thép, trí nhớ phi thường, đã dồn Luther đến đường cùng, bắt ông phải nhìn nhận những hệ kết tai hại mà có lẽ ông còn muốn che đậy hay chưa ý thức rõ ràng. Von Eck thắng cuộc nhưng trước cử tọa gồm đông đủ giáo sư nhiều đại học, Luther tuyên bố phủ nhận quyền Tòa Thánh Roma và cả Đại Công Đồng mà trước đây ông đã đòi nại đến. Ông chỉ nhận quyền Chúa Kitô và Thánh Kinh, mà mỗi người có quyền giải thích theo Thánh Linh nghĩa là ông chủ trương tự do phê phán ( Libre examen – Lm. Bùi Đức Sinh Sđd ).
Trong trường hợp này Von Eck cũng như Giáo Hội đã… thắng. nhưng hậu quả đưa đến mà ai cũng thấy, Tin Lành ngày càng phát triển mạnh mẽ và bất chấp lời kêu gọi hiệp nhất của Giáo Hội, họ vẫn đi con đường của mình là tục hóa.
Chủ trương tục hóa trước hết được đưa ra bởi những thần học gia Tin Lành và sau đó đã được các nhà thần học Công Giáo nhìn nhận như là điều tất yếu. “Theo quan điểm Kitô giáo, giải thiêng có thể có một nghĩa tích cực. Đó là một bước tiến nhằm xét xem một cách khách quan vạn vật trong tương quan đích thực với Thiên Chúa” ( Nguồn Lamhong.org ).
Chẳng biết tích cực như thế nào, chỉ biết Giáo Hội như đang đi vào đường cùng: Đạo đức không được chấn chỉnh, còn Giáo Lý thì công khai giảng dạy những điều lầm lạc. Sách Giáo Lý của Hội Đồng Giám Mục Hòa Lan viết: “Một thí dụ là sự kỳ vọng vào một tương lai sáng lạn và vào “Con Người nhỏ bé” như là kẻ mang lại sự cứu rỗi. Với nhiều người, những thành tố như thế trong chủ nghĩa Mác có thể chỉ đường cho một Kitô giáo canh tân. Trong ý nghĩa này, chủ nghĩa Mác có thể được cân nhắc không hoàn toàn như một khai triển hậu Kitô, nhưng là một loại Tiền Kitô” ( Giáo Lý Mới – Thời đại Mới, Nguyễn Ước dịch ).
Nói Mác, một người kịch liệt phê phán tôn giáo, cho tôn giáo là thứ thuốc phiện đầu độc quần chúng, mà nay lại đã trở thành… Tiền Hô của Đức Kitô, thì thật oái oăm quá chừng chừng ! Thế nhưng một khi đã bước vào tục hóa thì cũng chẳng có chi mà lạ. Ở bên trời Tây đã vậy, còn… trời Ta cũng đâu kém cạnh gì: có vị Giám Mục kia còn ca tụng Cánh Chung Luận Cộng Sản công khai trên tòa giảng mà giáo quyền có nói gì đâu ? Nói thì nói vậy nhưng Giáo Hội, được xây dựng trên đá tảng Phêrô đã có lời hứa của Đức Kitô: “Quyền lực âm phủ cũng chẳng phá nổi nó” ( Mt 16, 17 ). Chúng ta cứ vững lòng, bởi vì còn nhiều, nhiều lắm những chứng nhân sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình cho Chân Lý.
II. Phản biện như tiếng nói lương tâm
Đạo Chúa là Đạo Chứng Nhân theo lệnh truyền của Đức Kitô: “Các ngươi là chứng nhân về mọi việc đó” ( Lc 21, 48 ). Tuy nói mọi việc nhưng chung quy chỉ còn có một, đó là làm chứng cho Tin Mừng. Công việc làm chứng này đã được các môn đệ Chúa thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có người chịu chết trong thời cấm cách bách hại để bảo vệ Đức Tin chân thật. Có người từ bỏ địa vị giàu sang phú quý dấn thân trên con đường truyền giáo gian lao khổ ải. Có người hy sinh quên mình tận tâm tận lực âm thầm phục vụ đoàn chiên đã được trao phó v.v… Những chứng nhân như thế, họ đã tận dụng hết khả năng cho đến cả mạng sống chỉ để cho một mục đích duy nhất, đó là phần rỗi linh hồn mình và anh em mình.
Người trí thức phản biện cũng giống như những chứng nhân ở chỗ có can đảm làm theo tiếng nói của lương tâm mách bảo nhưng khác ở chỗ, một đàng thì có giới hạn một đàng không. Giới hạn của người trí thức ở chỗ, họ còn thấy có mình và một khi còn thấy có mình ( ngã chấp ) thì không bao giờ có thể hy sinh quên mình. Trái lại chứng nhân của Đức Kitô thì phải biết quên mình: “Ai muốn theo Ta thì phải bỏ mình vác thập giá hàng ngày mà theo” ( Mt 16, 24 ). Linh Mục Tađêô Nguyễn Văn Lý là một trong những môn đệ biết bỏ mình như thế. Những người đến thăm đều được cha tặng làm quà cho một mảnh giấy gọi là châm ngôn sống trong đó ghi câu này: “Hãy trao mọi người tất cả lợi lạc và nhận vào mình mọi thiệt thòi”.
Lợi lạc cha Lý trao, đó là Tiếng Nói của Lương Tâm ngài. Tiếng nói lương tâm ấy chính là sự phản biện mang một giá trị cao vời bởi nó đã được thực hiện bằng cả cuộc đời. Có phái đoàn chính phủ của Mỹ và Canada đến thăm ( trong tù ) và muốn cho ngài sang nước họ chữa bệnh, khi nào khỏi muốn về lại nước thì về, nhưng ngài đã cảm ơn: “Tôi chỉ muốn được ở Việt Nam với tình trạng tự do hoặc tiếp tục ở tù cho hết án chứ không đi ra nước ngoài chữa bệnh” ( Nguồn LTCG 3.2.2012 ).
Với trường hợp của cha Lý, chắc hẳn không khỏi có những câu hỏi được đặt ra, ông ta đã làm những việc ấy với mục đích gì, có đem lại ích lợi chi cho đất nước, cho Giáo Hội hay không ? Ai cũng có quyền đặt những câu hỏi ấy dù cho là bênh hay chống, thế nhưng nếu thử hỏi ngược lại rằng: nếu không có những con người như cha Lý hoặc những trí thức phản biện khác thì liệu chừng đất nước chúng ta, Giáo Hội chúng ta sẽ ra như thế nào ?
PHÙNG VĂN HÓA, 2.2012